The Pianist (2002) – Nhạc Chopin và những phím đàn đau đáu nỗi niềm Ba Lan

The Pianist (Nghệ sĩ dương cầm) là một bộ phim của đạo diễn Roman Polanski và diễn viên chính Adrien Brody. Bộ phim được công chiếu năm 2002 và ngay lập tức tạo được tiếng vang lớn và đạt nhiều thành tựu nổi bật. Bộ phim về đề tài chiến tranh thế giới II này đã giành được 3 giải Oscar và hàng loạt giải thưởng danh giá khác. 

The Pianist dựa trên cuốn hồi kí cùng tên của nghệ sĩ dương cầm Do Thái mang hai quốc tịch Ba Lan – Pháp, Władysław Szpilman. Nội dung kể về về hành trình sống sót qua Thế chiến thứ hai đầy đau thương mất mát của Szpilman. Dưới bàn tay của Roman Polanski và những trải nghiệm thực tế của chính ông, hơi thở chiến tranh trong The Pianist được phản ánh cực kì chân thực và cảm xúc. Thêm vào đó, diễn xuất tuyệt vời của Adrien Brody trong vai nghệ sĩ Szpilman đã mang lại linh hồn cho cả bộ phim, đưa đến một góc nhìn đầy thương cảm về những tội ác chiến tranh. 

Về nội dung, The Pianist đi theo cốt truyện đơn tuyến dưới góc nhìn của nhân vật chính, nghệ sĩ dương cầm Szpilman. Bộ phim chỉ xoay quanh những trải nghiệm về cuộc Thế chiến của riêng anh, từ khi phải chịu đựng nỗi đau mất mát cho tới những tháng ngày kham khổ chạy trốn chiến tranh. Không hào hùng tinh thần chiến đấu, không rực rỡ ý chí quyết tử, The Pianist trái lại chỉ đơn thuần là một cuộc chạy trốn. Một cuộc trốn chạy vì sinh tồn của một người bình thường, không có khả năng chiến đấu trước những tàn khốc của bom đạn và giết chóc. Theo chân Szpilman trải qua đầy đủ những mốc lịch sử của Thế chiến II, nỗi ám ảnh chiến tranh trở nên chân thật và trực quan đến lạnh lùng. 


Tuy nhiên, chất thơ của The Pianist lại đến từ nguồn cảm hứng vĩnh cửu của nhân loại : đó chính là âm nhạc. Vốn là một nghệ sĩ Piano, Szpilman có mối liên hệ đặc biệt sâu sắc với âm nhạc. Chính nhờ điều này, Roman Polanski đã có một cơ hội tuyệt vời để kết nối và bổ sung thêm một tầng ý nghĩa ẩn giấu đầy sâu sắc và không kém phần lãng mạn cho bộ phim. Xuyên suốt hơn 2 giờ 30 phút phim, âm nhạc tưởng chừng như đã chết, lại trỗi dậy đầy da diết và mạnh mẽ. Ẩn sau những bản nhạc ấy chính là linh hồn và tình yêu vô bờ với đất nước Ba Lan nhỏ bé mà kiên cường. Như một thông điệp phản chiến mạnh mẽ nhất, nỗi niềm Ba Lan trào dâng giữa các phím đàn, tinh thần yêu nước và yêu hòa bình gửi gắm ngay trong từng nốt nhạc. 

Bài viết này sẽ không xoáy sâu vào những thước phim trần trụi hiện thực đến đau lòng về tội ác diệt chủng của Phát xít Đức với nhân dân Do Thái mà sẽ đi tới với âm nhạc. Lắng nghe thật sâu những giai điệu phát ra từ từng phím đàn, để tìm thấy nét thơ và tình yêu Ba Lan vô bờ đang còn ẩn giấu trong đó. 

Không cần là tín đồ của nhạc cổ điển để có thể biết đến cái tên Frédéric Chopin (Sô-panh). Một nhà soạn nhạc thiên tài người Ba Lan nổi tiếng với những bản đàn tinh tế và đầy thổn thức. Linh hồn âm nhạc của The Pianist chính là Chopin. Âm nhạc của Chopin chính là niềm tự hào dân tộc của người Ba Lan, một thứ âm nhạc nặng tình với quê hương xứ sở. 

Dành cho mở đầu và kết thúc : Nocturne No.20 in C-Sharp Minor Op. post 

Ngay mở đầu của The Pianist, những thước phim đen trắng về thủ đô Warsaw trên nền nhạc độc tấu piano đã mang lại cảm giác da diết khôn nguôi. Đó chính là bản Dạ khúc số 20 cung Đô thăng thứ (Nocturne No.20 in C-Sharp Minor Op. post) của Chopin. 

Nói về bản nhạc, Dạ khúc số 20 được Chopin viết trước khi rời khỏi Ba Lan. Chopin, với tấm lòng yêu nước vô bờ đã viết nên một bản đàn mà sau này được gọi là Dạ khúc xa xứ, mang theo nỗi buồn không đành biệt ly của một người con phải rời khỏi quê hương. Ông không hề biết rằng ngay sau đó đất nước thân yêu sẽ rơi vào chiến tranh và ông sẽ mãi mãi không bao giờ quay lại quê hương lần nữa. Phủ trùm lên bản nhạc là nỗi u buồn sầu não, càng về sau càng trở nên thổn thức, đầy day dứt, lại cũng đầy yêu thương. 

Trong The Pianist, việc lựa chọn Nocturne số 20 làm nhạc mở đầu giống như một lời khẳng định tấm lòng yêu nước, cũng lại là một lời dự báo cho những lầm than đau khổ đất nước phải gánh chịu do chiến tranh. Đồng thời, việc Szpilman đắm chìm trong giai điệu ấy đến nỗi ngay cả khi bom nổ cũng không muốn để bản nhạc đứt quãng chính là minh chứng tuyệt đẹp cho tình yêu âm nhạc, cũng như tình yêu không sợ hãi dành cho quê hương.

Đối lập với điều đó, khi vang lên ở cuối phim, nối tiếp những nốt còn dang dở từ phần đầu, Dạ khúc số 20 lại như thổn thức bao nỗi niềm xót thương của Spzilman. Cảnh anh xúc động hoàn thành bản đàn trong chính đài phát thanh Warsaw không chỉ thể hiện niềm hạnh phúc khi có lại hòa bình, mà còn hàm chứa nỗi chua xót khi đã phải đánh đổi quá nhiều để đi đến ngày hôm nay. Chiến tranh đã ở phía sau, nhưng những gì bị cướp đi chẳng thể nào lấy lại được. Bản nhạc vang lên vừa dịu dàng như tình yêu hòa bình, vừa man mác buồn thương những nỗi nhớ, nỗi đau không thể nào quên. 

Khúc nhạc trong câm lặng :  Grande Polonaise brillante Op. 22

Sau bản độc tấu piano tuyệt vời ở đầu phim, phân nửa thời lượng phim sau đó không xuất hiện thêm bản nhạc nào nữa. Hơn một tiếng đồng hồ phim tập trung lột tả những tội ác khủng khiếp của Phát xít Đức với nhân dân Ba Lan và dân tộc Do Thái. Những thước phim đau đớn đến câm lặng hay những cái chết phơi bày trên mọi con đường gây ra một bầu không khí vô cùng áp lực và ngột ngạt. Suốt chừng ấy thời gian, Szpilman không hề đánh đàn một lần nào, âm nhạc tưởng như đã bị chiến tranh dìm chết. 

Nhưng vào giai đoạn căng thẳng nhất của phim, âm nhạc lại xuất hiện như một vị cứu tinh kì diệu. Cảnh đánh đàn lần này mang dụng ý nghệ thuật rất rõ ràng, cùng với lối thể hiện tươi mới đã trở thành điểm sáng vào khoảng giữa bộ phim. Đó chính là cảnh Szpilman đánh đàn piano trong không khí. 

Trong bối cảnh đang ẩn náu và chạy trốn, Szpilman không được phép gây ra bất kì tiếng động nào. Nên ngay cả khi chiếc Piano ở trước mặt, anh cũng chỉ có thể tự hình dung ra việc được nhẹ lướt trên phím đàn. Bản nhạc anh tưởng tượng ra chính là phần mở đầu của Grande Polonaise brillante Op. 22, một tác phẩm của Chopin viết cho dàn nhạc. Bản đầy đủ cũng được sử dụng làm nhạc chạy credit ở cuối phim. 

Một nhạc phẩm có âm điệu nhẹ nhàng và tươi tắn. Những nốt cất lên đầy trong sáng và bay bổng. Giai điệu vui tươi vang lên cũng là lúc Szpilman mỉm cười đầy nhẹ nhõm sau cả một quãng thời gian trốn chạy nghẹt thở. 

Đây là một tác phẩm thuộc thể loại Polonaise, dòng nhạc được lấy cảm hứng từ điệu Polonaise của âm nhạc dân gian Ba Lan. Có thể nói bản Polonaise là tác phẩm mang đậm tính Ba Lan nhất, thể hiện sâu sắc và rõ ràng nhất linh hồn Ba Lan. Với Chopin, Polonaise còn mang theo nỗi khắc khoải hoài thương quê nhà.

Grande Polonaise brillante Op. 22 như gợi nhớ về âm điệu vui vẻ và lạc quan của những khúc nhạc Ba Lan xưa cũ đã ngấm vào trong máu thịt. Như lời nhắc nhở Szpilman về tinh thần Ba Lan vẫn luôn tồn tại bên cạnh anh.

Cách Szpilman muốn chơi Grande Polonaise brillante Op. 22 ngay cả trong hoàn cảnh vô cùng bất khả thi và nguy hiểm không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn phảng phất niềm tự tôn dân tộc. Dù bị kìm kẹp, âm nhạc vẫn sống mãi trong tâm trí con người, cùng với tinh thần Ba Lan vẫn tồn tại ngay cả khi rơi vào khó khăn nguy khốn. 

Ngay lúc ấy và những ngày trốn chạy về sau, điều giữ cho Szpilman cố gắng bám trụ với cuộc sống là gì ? Dù trải qua vô vàn khó khăn, cơ cực và nhiều lần đối diện với cái chết, động lực sống của anh đến từ đâu lại có thể mạnh mẽ đến vậy ? Tuy bộ phim không thật sự làm người xem thỏa mãn với một kiến giải đủ sức nặng, nhưng vẫn cho thấy sự quật cường của Szpilman đến từ lòng ham sống, và sự bầu bạn của âm nhạc. Ở mọi nơi, đôi tay anh vẫn lặng lẽ vẽ lên trong không trung những nốt nhạc, dường như để quên đi cái lạnh lẽo cơ cực phải trải qua từng ngày. 

Khúc nhạc định mệnh: Ballade No. 1 in G minor, Op.23

Có lẽ phân cảnh đắt giá nhất The Pianist chính là cảnh Szpilman chơi đàn cho vị sĩ quan Đức trong căn nhà bỏ hoang. Nhờ có sự xuất hiện của bản Ballade số 1 cung Sol thứ (Ballade No. 1 in G minor, Op.23), cảnh phim được đẩy lên đến cao trào mà không cần bất kì lời thoại nào, trở thành cảnh tạo ấn tượng sâu sắc nhất trong phim. 

Trong nguyên tác hồi ký của Szpilman, bản nhạc ông chơi cho vị sĩ quan Đức (Hosenfeld) chính là bản Dạ khúc số 20 của Chopin, đã được xuất hiện ở đầu phim. Tuy nhiên, trong The Pianist, Roman Polanski đã thể hiện sự sáng tạo của riêng mình khi lựa chọn Ballade số 1 cung Sol thứ để thay thế. Một sự thay đổi đã tỏ ra là đúng đắn, khi đã tạo ra sự kịch tính và ý nghĩa đặc biệt cho một cảnh phim then chốt. 

Vào một đêm ở căn biệt thự bỏ không, trước khi Szpilman bị phát hiện, anh đã nghe thấy tiếng piano vọng từ dưới nhà lên. Gần như khẳng định được người chơi đàn chính là Hosenfeld, với bản Sonata Ánh Trăng (Moonlight sonata) nổi tiếng của Beethoven. Để rồi chỉ một lát sau, âm nhạc tinh túy nhất của Chopin cũng được vang lên. Một sự đối ứng dễ nhận thấy với Beethoven là đại diện cho nhạc cổ điển nước Đức và Chopin đại diện cho Ba Lan.  

Bản Ballade số 1 cung Sol thứ được chơi trong The Pianist chỉ là một đoạn của bản nhạc gốc dài hơn 9 phút, nhưng lại là khúc đau thương và hùng tráng nhất. Một bắt đầu chậm rãi và man mác, rồi nỗi đau cứ mạnh dần lên, để rồi kết thúc bằng đau thương cuồng nộ, cũng lại phảng phất ý chí quật cường. 

Khác với cuốn hồi ky nguyên tác, việc chơi một bản Dạ khúc trong trường hợp này là rất hợp lý và nhiều cảm xúc, nhưng chơi chính bản Ballade số 1 này thậm chí còn mang theo dụng ý nghệ thuật đặc biệt hơn. Polanski đã chọn một bản nhạc đủ cao trào và đủ mạnh mẽ để đáp lời nhạc phẩm của Beethoven. Đồng thời thể hiện ý chí không chịu khuất phục trước nỗi đau và bạo lực chiến tranh, một tinh thần Ba Lan sáng chói qua bom đạn và diệt chủng. Chơi bản nhạc này trước mặt một sĩ quan Đức, Szpilman của Roman Polanski dường như đã chuẩn bị sẵn sàng để chết ngay sau đó. 

Điều này có lẽ đã làm cho vị sĩ quan Đức xúc động thật sự. Không phải chỉ vì một giai điệu tuyệt vời, mà còn vì tình cảm ái quốc theo cách rất riêng được gửi gắm trong đó. Người Đức hay người Ba Lan thì vẫn giống nhau ở tình yêu đất nước. 

Kết lại 

Trải qua muôn vàn đau thương, chịu ảnh hưởng nặng nề của tội ác chiến tranh, nhưng đất nước và con người Ba Lan vẫn không đánh mất linh hồn và tình yêu âm nhạc. Xin kết lại bằng một câu thoại những người Ba Lan ném vào quân Phát xít ngay khi gặp chúng bại trận: 

“Chúng mày lấy hết những gì tao có.

 Tao, một nhạc công. 

Chúng mày lấy cây violin của tao, lấy mất cả linh hồn tao” 

The Motorcycle Diaries (2004) – Thao thức những cung đường

Những bộ phim về hành trình liều lĩnh và hào sảng của tuổi trẻ luôn thật hấp dẫn. Chúng càng đặc biệt hơn khi không chỉ ghi lại những cung đường và những địa điểm đi qua, mà còn giúp con người ta nhận ra lý tưởng cuộc đời.

Dung dị và thuần phác như một cuốn nhật ký hành trình, “The Motorcycle Diaries” phác họa lại chuyến hành trình quanh Nam Mỹ đầy cảm xúc của hai chàng trai. Một người là nhà sinh học chuẩn bị bước sang tuổi 30, Alberto “Mial” Granado. Một người là cậu sinh viên y khoa năm cuối, Ernesto “Fuser” Guevara, người sau này sẽ trở thành lãnh tụ Che Guevara vĩ đại. Mỗi cung đường đi qua là những thao thức không ngừng của một thời trai trẻ.

Khởi đầu của cuộc hành trình

Bộ phim được thực hiện dựa theo 2 cuốn nhật ký đi đường của chính Che Guevara và Granado, từ khi hai người bắt đầu lên kế hoạch cho chuyến đi xuyên Nam Mỹ. Với lối dẫn chuyện kiểu tự thuật, cá tính và tâm lý của cả hai bắt đầu được bộc lộ:

“Thứ chúng tôi giống nhau: sự liều lĩnh, lòng đam mê và tình yêu với những con đường rộng mở” 

Ernesto Guevara sinh trưởng trong một gia đình trung lưu khá giả ở Argentina. Anh đang theo học bác sĩ năm cuối và chỉ còn vài tháng nữa là thi lấy bằng tốt nghiệp. Bị căn bệnh hen suyễn mắc phải từ khi còn nhỏ hành hạ làm anh trở nên kiên cường và rắn rỏi. Đồng thời Ernesto cũng là một người thành thật và ngay thẳng.

Alberto Granado lại là một nhà sinh học hơi tròn trịa có thái độ vô cùng yêu đời và lạc quan. Với con xe moto “The Mighty One”, anh muốn đi chinh phục Nam Mỹ để thỏa mãn một thời tuổi trẻ.

Trong cuộc đối thoại để lên kế hoạch cho chuyến đi tại một nhà hàng, Granado đã chỉ vào một ông béo ngủ gật để làm động lực cho “Fuser” tham gia vào cuộc hành trình. Cả hai người trẻ đều nhận ra chỉ có tuổi thanh xuân mới cho họ cơ hội đi để khám phá và trải nghiệm, nếu không khi về già sẽ chỉ là trì độn và hối tiếc.

Lên đường với khát khao tuổi trẻ

Hai người đàn ông, trên chiếc xe motor lỉnh kỉnh đồ đạc chuẩn bị đi phượt xuyên biên giới, giống như câu chuyện về Don Quijote và chiến mã Rocinante phiêu lưu khắp nơi để chiến đấu vì tự do. Hành trình của họ có thể là vô nghĩa với nhiều người, nhưng trong mắt họ, nó vô cùng quan trọng và lớn lao. Không khác nào cách Don Quijote tự hào về cuộc phiêu lưu của chính mình.

Hình ảnh chiếc xe moto độc hành trên con đường vắng vẻ càng làm nổi bật cái kiêu ngạo dũng cảm và đầy dấn thân của tuổi trẻ. Fuser thậm chí đã để lại người yêu để lên đường. Anh gặp lại cô lần cuối trước khi thật sự dấn thân về phía trước ngay cả khi chẳng có điều gì đảm bảo cô sẽ đợi được anh trở lại. Mang nặng nhiều cảm xúc trong lòng, anh vẫn lướt nhanh trên những con đường trải dài tới tận chân trời.

“Những gì con nhận được khi băng qua biên giới chính là mỗi khoảnh khắc như tách làm đôi: u sầu vì những gì đã bỏ lại phía sau và phấn khích khi tiến vào một vùng đất mới”

Trải qua muôn vàn khó khăn, bị hỏng xe, thời tiết khắc nghiệt, hết tiền phải đi ăn ngủ nhờ, những cãi vã vặt vãnh dọc đường hay những cơn hen kịch phát, hai người họ vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Mỗi con đường đi qua đều in dấu bánh xe, mỗi nơi dừng lại đều đem lại cho họ những trải nghiệm tuổi trẻ không thể nào quên. Nam Mỹ bình dị và đầy vui tươi được khắc họa trong từng câu hát, từng điệu nhảy samba vui nhộn. Đồng thời, những góc tối của sự nghèo đói và chia cắt cũng dần dần hiển hiện. 

Hành trình trường chinh hiện ra đầy phóng khoáng, mang cái chất lang bạt đầy tự do và liều lĩnh của thời trai trẻ trong từng thước phim bàng bạc và cả cái rung lắc đặc trưng trên từng cây số.

Cho tới khi đến Chile, cũng là khi Granado buộc phải bỏ lại chiếc xe moto yêu dấu với muôn vàn tiếc nuối, cuộc hành trình của cả hai cũng bước sang một chặng mới.

Điều ấn tượng là ngay cả khi không còn phương tiện nào để đi, hai người vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Có thể lúc này nó đã không còn là “Nhật ký xe máy” nữa, nhưng ngay cả đi bộ hay đi nhờ xe thì phải đi vẫn là phải đi. Khát khao đi tiếp được thể hiện một cách đầy chân thực trong chỉ một câu nói của Fuser khi nói chuyện với đôi vợ chồng ở mỏ đá.

“- Hai người đang tìm việc sao?
– Không, chúng tôi không tìm việc.
– Không phải sao? Vậy tại sao hai người lại đi ?
– Chúng tôi đi chỉ để đi thôi”

Đúng thế, với những tâm hồn yêu xê dịch, đi chính là chỉ để đi. Mọi lý do đều chỉ là phụ trợ cho niềm đam mê đơn giản độc nhất ấy. Nhiều khi ta chỉ lên đường không phải vì một điểm đến, mà chỉ là muốn được trải nghiệm một cuộc hành trình.

Đi, thấy, cảm nhận, thay đổi

Có lẽ mục đích cuộc hành trình của Fuser đã bắt đầu thay đổi từ khi bỏ lại chiếc xe máy tại Chile. Anh không còn chỉ đi vì cái thú chinh phục của tuổi trẻ, anh đi để thấy và để cảm nhận.

Những phân cảnh cuốc bộ qua sa mạc hoang vắng hay dừng chân tại khu mỏ không chỉ thể hiện cái ý chí du hành của hai con người ấy, mà dần phảng phất màu sắc của hiện thực xã hội. Sự nghèo đói và bất công trải dài trên khắp các cung đường Nam Mỹ.

Từ Argentina tới Chile rồi tới Peru, càng vào sâu trong dãy Andes, cuộc sống của tầng lớp nông dân nghèo Nam Mỹ càng thể hiện đậm nét. Thông qua những cuộc nói chuyện với dân bản địa và những thước phim theo kiểu ký sự, tình trạng nghèo đói và áp bức bất công của tầng lớp nông dân càng hiện lên chân thực. 

Những hình ảnh đen trắng với người nông dân nghèo đóng khung trong những cảnh tĩnh, cùng bản nhạc độc tấu réo rắt mà buồn thương của Gustavo Santaolalla là một điểm nhấn nghệ thuật vô cùng đặc sắc. 

Khi đứng tại Machu Picchu, kinh đô huy hoàng đã đi vào dĩ vãng của đế chế Inca vĩ đại, Fuser đã phần nào nhận ra bản chất của sự bất công và nghèo đói này.

“Người Inca hiểu biết về thiên văn, y học, toán học cũng như những thứ khác, nhưng những kẻ xâm lược Tây Ba Nha có vũ khí.
Châu Mỹ sẽ như thế nào nếu mọi chuyện khác đi. “

“ Một cuộc cách mạng mà không có vũ khí ư. Sẽ chẳng bao giờ được đâu, Mial”

Cũng chính tại Peru, trong thời gian tình nguyện tại một trại phong bên bờ sông Amazon, một lý tưởng lớn dần thức tỉnh trong lòng Fuser. Trại phong nằm ở hai bên bờ sông, một bên là dành cho người lành và một bên dành cho người bệnh đã trở thành hình ảnh trọng tâm trong toàn bộ phần sau của “The Motorcycle Diaries”, nó đại diện cho những chia cắt của các nước Nam Mỹ – Mỹ Latinh thời điểm đó. Bên cạnh khía cạnh thiếu hiểu biết về mặt y học về bệnh phong, bệnh vốn không lây nhiễm qua đường tiếp xúc, dẫn đến thái độ có phần kì thị cực đoan của một bộ phận người lành, còn có những lề lối không thể phá bỏ của tư duy tiểu nhược, tư duy địa phương nhỏ hẹp.

Đứng trước thực trạng như vậy, sự có mặt của hai chàng trai đã thổi một luồng gió mới vào cuộc sống nơi đây. Phá vỡ quy tắc cũ cùng với sự hiểu biết và tình yêu thương lớn lao, hai người, đặc biệt là Fuser đã mang tới sự đối xử công bằng và bình đẳng mà những người bệnh phong chưa từng biết tới.

Điều này suy rộng ra chính là tác động mạnh mẽ của sự đoàn kết các nước Nam Mỹ, dựa trên sự thống nhất về mặt dân tộc và văn hóa, có thể là liều thuốc cứu lấy một châu lục thoi thóp đang chết dần trong cơn bạo bệnh.

Sau bài phát biểu mừng sinh nhật mà phảng phất âm hưởng của một bài diễn văn yêu ước, Fuser đã không do dự mà tự bơi qua sông, vượt qua ranh giới vô hình được vạch ra ngăn cách 2 thế giới. Bất chấp sức mình nhỏ bé, bất chấp dòng nước hung dữ, anh quyết tâm dùng sức mình để phá vỡ ranh giới ngăn cách giữa người với người. Hành động này của chàng trai Fuser mang tính biểu tượng rất cao, đại diện cho lý tưởng tiên phong giải phóng và đoàn kết dân tộc mà Fuser, sau này là Che Guevara vẫn bền bỉ theo đuổi.

Lời kết

Có thể nói, chuyến hành trình xuyên Nam Mỹ đã góp phần thay đổi cái nhìn và con người của một chàng trai trẻ, hơn nữa còn gieo mầm cho những thắng lợi về sau của tự do, bình đẳng và bác ái trên mảnh đất Mỹ Latinh. Giá trị của nó là không thể nào đo đếm được, chính bởi vì hai từ: thay đổi.

Tầm nhìn của chúng tôi có quá hạn hẹp, quá định kiến hay quá khắc nghiệt không?
Liệu kết luận của chúng tôi có quá cứng nhắc?
Có thể lắm

(Nhưng) Việc lang thang quanh châu Mỹ đã thay đổi tôi “

Khi nhìn nhận dưới một góc độ bình thường hơn, không phải dưới cách đánh giá câu chuyện của một vĩ nhân, mà chỉ đơn thuần là hai người trẻ tuổi đi để khám phá thì “The Motorcycle Diaries” đã rất thành công khi mang lại trải nghiệm thưởng thức rất chân thực và nhiều ý nghĩa. Kết thúc bộ phim, những khung hình đen trắng nửa tĩnh đầy ám ảnh và âm điệu của bản độc tấu guitar ẩn chứa một nỗi hoài thương khó tả vẫn cứ ám ảnh mãi trong tâm trí người xem.

24.03.2019. Bát cháo gà của mẹ

Trời Hà Nội đột nhiên trở lạnh.

Vừa ban sáng còn vương vấn cái hanh hao của ngày qua đầy nắng, chiều về đã mang theo hơi lạnh ngấm ngầm trong từng cơn gió. Thời tiết thay đổi thất thường, mũi họng vốn dĩ nhạy cảm này lại được dịp xét xịt cả ngày.

Vác xác về nhà sau một tuần hành xác ở xứ thủ đô, với cái mũi tắc tịt chảy nước ròng ròng và hắt xì hơi liên tục, cảm giác như người ốm sắp chết đến nơi. Toàn thân rệu rã chống chọi với một đợt cảm cúm, đâm ra thèm tha thiết được ăn cháo gà. Ấy thế cái kiểu con gái, bình thường không sao tự dưng tới một ngày xấu trời, lại thèm thuồng ham muốn đủ thứ như thể ngày mai sẽ chết. Nhưng ai có hiểu được đâu, cái thèm ấy chính là tìm kiếm một sự quan tâm chăm sóc. Chẳng cần kiếm ở đâu xa, chỉ cần về nhà là thấy.

Về nhà lúc chiều muộn, cứ thế con gái mất nết kì kèo với mẹ một bát cháo gà. Mẹ lại lóc cóc ra chợ mua một cái đùi, rồi về chế biến, ướp gừng ướp hành với gia vị. Rồi mẹ bỏ vào nồi hầm ninh nhừ với gạo. Mọi thứ mẹ làm loáng cái đã xong, trông đĩa thịt chặt ra cũng đã thấy ngon mắt. Đứa con gái vô kê vừa đánh chén xong một quả chuối, ngẩng lên đã thấy mẹ chuẩn bị xong nồi cháo gà cho sáng mai ăn. Làn hơi bay ra từ nồi hầm đã phảng phất mùi thơm ngọt béo ngậy của những thớ thịt gà tươi ngon.

Tảng sáng thức dậy thì trời lạnh hẳn, cái lạnh se se hanh nhẹ của thời tiết Bắc Việt đã quen từ tấm bé. Không khí làng quê càng trở nên tươi mát và trong lành, nhưng chẳng thể yêu thương cho nổi với một người đang bị cảm cúm hành hạ.

Đi lờ đờ xuống bếp, vừa đi vừa thở bằng miệng. Hai lỗ mũi tắc tịt, tiếc thay đã bỏ lỡ hương thơm tinh túy của nồi cháo ủ kĩ. Nhưng chưa cần thế thì bát cháo gà mẹ làm cũng đủ khiến cả thân thể và tâm trí thư giãn hoàn toàn.

Múc cháo ra bát thủy tinh, nước cháo sánh vàng óng ánh màu mỡ gà ngon, gạo quê nhuyễn nhừ hòa đều với những miếng thịt gà mẹ đã tỉ mẩn tách ra từ phần đùi ninh kĩ. Bỏ thêm hành tươi và tía tô thái nhỏ, trộn đều lên rồi lại ngẩn người nhìn ngắm làn khói nóng hổi bay lên, cảm thấy như thể ngửi được cả mùi thơm sánh mịn.

Bát cháo nóng của mẹ trong buổi sáng cuối xuân se lạnh chắc hẳn sẽ là một kỉ niệm bình dị nhưng không thể nào quên cho đến mãi về sau. Từng thìa múc lên, cảm nhận được cả vị gà ngọt dịu, vị nước dùng tinh túy, lại phảng phất một chút he he của hành lá, cùng cái ngai ngái của tía tô. Một sự hòa quyện mĩ vị ấm nóng đổ ào vào khoang miệng, hâm nóng toàn bộ cơ thể, lan tràn nguồn sinh khí ra khắp châu thân.

Vừa ăn vừa xuýt xoa, vừa ăn vừa thổi, trong dạ bùng nên một nguồn ấm áp khó tả. Bát cháo gà ngon, không chỉ vì cái vị thân quen của gia đình, cái gạo của nhà, cái hành mẹ trồng hay cái tía tô mẹ hái sau vườn. Nó còn ngọt ngào một tình cảm thiêng liêng , dù mọi thứ có xoay vần, tình mẫu tử luôn luôn là bất biến. Con gà mẹ ướp, bát gạo mẹ vo, nồi nước mẹ cắm hay cọng hành mẹ thái rồi bày biện ra mâm trước khi đi làm để các con thức dậy có thể nóng sốt ăn ngay. Mẹ trầm lặng, không mấy khi nói về yêu thương, nhưng mẹ không tiếc gì mà cứ âm thầm như thế, trao hết tấm lòng cho các con. Chỉ một bát cháo bình thường thôi, mà cái ngon đến rơi nước mắt.

Không biết là vì khi ốm thì hay cảm thấy yếu đuối mà đâm ra bi lụy, nhưng bao tình cảm mẹ gửi gắm vào một món ăn đột nhiên đều cảm nhận rõ ràng. Lại tự nhìn vào mình mà thầm trách móc, mình đã làm được cái gì cho gia đình đây. Nhưng rồi lại nghĩ về tương lai, sẽ bước tiếp để khi ngoảnh lại có thể trông thấy nụ cười thật tươi của mẹ.

Du ký Ninh Bình : lại tìm về một góc hoang sơ

Giới thiệu:

Ninh Bình đúng là đi bao nhiêu lần cũng không hết lý do để đến. Vì đã đi Ninh Bình một lần rồi, nên lần này quay lại đi những nơi chưa tới được. Khác với lần trước, tuy cùng là tự đi nhưng lần này mới đúng chất là đi du lịch máu chiến và có phần dở hơi. Tự dành hết cho riêng mình tất cả những gì khác biệt mà tuyệt vời nhất. Những thứ mà mỗi chuyến đi không lần nào có thể giống nhau, những thứ độc nhất chỉ xảy ra tại nơi ấy, trong khoảnh khắc ấy, với những con người ấy và niềm cảm xúc ấy.

Ninh Bình là nơi tuyệt vời cho tất cả mọi người. Những người đi để trải nghiệm, những người đi để tìm về với thiên nhiên sau những mệt mỏi nơi phố thị, những người đi để tìm về với văn hóa và lịch sử và cả những người đi để lấy lại cái tĩnh lặng cho tâm hồn.

Ngày 0: Lên kế hoạch

Thật sự chẳng có gì đáng để nói cả, vì quyết định đi được chốt trong 3 ngày. T4 bảo nhau đi, T7 đi luôn. Chỉ cần dăm ba lần search Google đã chuẩn bị đủ cho cả chuyến đi 2 ngày 1 đêm.

Thật sự việc tự set một cái lịch không quá khó khăn như nhiều người vẫn nghĩ, cộng thêm ưu điểm là nó hoàn toàn chủ động và có thể căn cho vừa sức cũng như hợp thời tiết. Nhưng điểm thú vị nhất là nó đầy tính ngẫu hứng và bất ngờ.

Đặt xe : lần nữa vẫn đặt Tràng An limousine, vì cảm thấy rất hài lòng vì dịch vụ. Gọi điện một lần để xác nhận, sát giờ nhắn tin hoặc gọi điện nhắc nhở, đi đường cao tốc rất êm và tài xế cực kỳ dễ chịu.

Đặt homestay: lần này chỉ mất chưa đầy 5 phút trên Traveloka. Đọc qua vài chỗ rồi đặt luôn chứ không phải lưỡng lự nhiều lắm.

Khu hang Múa nổi nhất là Chezbeo, view hồ sen đẹp và giá rẻ nên được nhiều người chọn đặt, nhưng theo cảm nhận cá nhân thì điều kiện hơi tồi tàn. Mà hai đứa thì cũng không phải là đi hành xác nên đã chọn Ninh Binh Mountainside homestay, một địa điểm có phản hồi khá tích cực.

Đặt xe máy: cái này dễ lắm. Lên GG 2 giây là có 500 cơ sở cho thuê xe máy ở Ninh Bình, mang xe tới tận nơi miễn phí, mua hộ sẵn 30k tiền xăng. Nhưng chú ý là họ thường tính tiền theo ngày (không phải theo 24h) nên chiều t7 mới đến nơi mà tối CN trả xe thì vẫn tính là 2 ngày. Giá cả dao động 100k/ngày.

Tìm địa điểm: Dành 2 tiếng đọc 7749 cái review. Đừng nên chỉ đọc những review lung linh về cảnh sắc, cố gắng săn cho bằng được những review có tâm về giá cả, lưu ý khi đi để được trọn vẹn từng chuyến đi cũng là một công tác chuẩn bị quan trọng.

Nhật ký hành trình này, sẽ là một cái review “siêu chi tiết và siêu có tâm” cho những ai đó thật sự muốn có những trải nghiệm Ninh Bình. Chuyến đi này sẽ chẳng giống bất kì chuyến đi nào khác, vì nó là sự kết hợp của một đứa bậc thầy sống ảo và một đứa hoài cổ bị nghiện những giá trị văn hóa. Như mọi khi, chuyến đi của bọn này “vừa đẹp vừa sâu”

Ngày 1: Chùa Bích Động (leo núi Bích Động) – Thung Nắng

10h30 : Lên xe Tràng An limousine tại Phố Vọng.

Hành trình xe và điểm dừng có thể tham khảo trên trang vexere.com.

12h: Có mặt ở bến đò Tràng An, điểm cuối của tuyến. Sau đó nhận xe máy và đi về homestay khu Hang Múa cách khoảng 2km.

Tip: Nhà xe trả khách tận homestay. Và hầu hết homestay đều CÓ XE MÁY, thậm chí còn cho mượn MIỄN PHÍ, chỉ mất tiền xăng. Lần này có một cái thiệt do hơi lười là không gọi điện hỏi nhà xe trước, cũng quên luôn hỏi homestay.

12h15: Nhận phòng tại Ninh Bình Mountainside homestay.

Đường vào Hang Múa có rất nhiều homestay, nằm giữa khu nhà dân với đường làng ngõ xóm nhưng rất dễ tìm vì biển chỉ dẫn ở khắp nơi.

Cuối tháng 5, Ninh Bình khá vắng khách lưu trú, thường chỉ có người nước ngoài ở lại, còn người Việt thì hay đi cuối tuần.

Vốn chỉ đặt phòng twins giá 448k, nhưng anh chủ đáng yêu và rất nhiệt tình cho luôn một phòng family 30m2 với 2 giường cỡ queen. Anh bảo đang ít khách nên để 2 em hẳn cái phòng to cho thích. Phòng rộng, đẹp, trần gỗ và đồ đạc ít nhưng rất đầy đủ, phòng tắm thì to vật vã có khi kê đủ cái giường đơn. Hài lòng tập 1.

 Phòng family siêu to
Phòng family siêu to

Hồ sen đang vào mùa bắt đầu nở hoa rất đẹp. Giữa hồ nhà anh còn dựng cái cầu tre, đèn đóm buổi đêm cực kì ảo diệu. Ven hồ có một khu kiểu thủy tạ chuyên phục vụ cafe ăn uống view nhìn ra hồ sen, trên mái có giàn hoa rủ xuống, ngồi ăn rất nên thơ. Hài lòng tập 2.

Kiếm tạm ảnh homestay cái ngày chưa có cầu tre, cảnh bây giờ giống y trang thế này

Homestay kết hợp cả bar và cafe ăn uống đơn giản nên có cả chỗ ngồi uống nước và đánh bia. Nói chung ở Ninh Bình không có quá nhiều đặc sản, nhất là ở khu vực xa thành phố thì kiếm một quán ăn chất lượng khá là khó. Thành ra nhiều lúc đi về mệt lại ăn luôn ở Homestay, đồ ăn chất lượng, đáng đồng tiền nên không có gì để phàn nàn. Hài lòng tập 3.

Khu ăn uống cạnh hồ sen. Mùa hè hay mùa mưa ngồi đây ngắm hồ đều rất thích

Nhà anh chủ cho mượn xe đạp miễn phí, cho mượn cả nón để đi sống ảo, anh đang chuẩn bị đầu tư cho mượn cả yếm để chụp ảnh hồ sen (vì hai con giời nào đó cứ kêu gào anh hồ sen đẹp mà không có yếm thì phí quá anh ơi)

Nói chung còn cảm thấy hài lòng nhiều tập nữa vì anh chủ và gia đình cực kì thân thiện và vui vẻ.

Bonus: homestay còn cung cấp cả 1 tờ phô tô bản chỉ dẫn các địa điểm đi chơi, hỏi anh chủ còn chỉ luôn cho một list các nhà hàng ăn ngon ở Ninh Bình.

12h45: Đi ăn trưa ở nhà hàng Xuân Vinh

Cái đèn xinh quá

Nhà hàng to đẹp nhưng có vẻ phục vụ chủ yếu khách địa phương và đi theo hội nhóm gia đình nên có 2 đứa mà được phục vụ xuất cho 4 người, gọi ít nhưng vẫn chẳng ăn hết.

Đồ ăn gọi là món đồng quê nên cũng chẳng khác gì quê mình. Ăn được, cơm niêu gạo dẻo.

Tổng thiệt hại 250k.

13h30: Về homestay nghỉ trưa

15h30 : Đi chùa Bích Động.

Vì trời rất nắng nên quyết định để buổi chiều muộn mới đi. Kế hoạch là đi xa về gần, chuẩn bị mấy địa điểm cho buổi chiều nhưng vẫn là tùy cơ ứng biến.

Đường ra chùa Bích Động khoảng 8km, mù đường đến đâu vẫn đi được với google maps.

Đi từ đường lớn vào thì chùa nằm ở bên tay trái, chỗ gửi xe nằm bên cạnh hồ sen, cứ đi thẳng là tới. Giá vé 10k cho xe máy, 5k cho xe đạp.

Mùa này sen trong hồ trước cổng tam quan bắt đầu phủ kín mặt nước, đây đó những búp sen hồng bắt đầu mọc lên. Bắc ngang hồ sen để vào cổng chính là một cái cầu đá trông rất cổ kính, chụp góc nào cũng thấy đẹp.

Đi qua cổng tam quan thì tới một con đường dẫn vào chùa Bích Động. Chùa Bích Động có lịch sử từ thời Tiền Lê, sau này được xây lại vào khoảng đầu TK 18, chùa cũng có một lối kiến trúc độc đáo ít thấy và rất bề thế mà trang nghiêm.

Chùa Bích Động gồm 3 chùa xây theo lối chữ TAM, nghĩa là dật cấp lên cao dần theo sườn núi. Dưới chân núi là chùa Hạ, với cây hồng tổ, cây thị thế kỉ, cây đại thế kỉ, toàn là những cây đã mấy trăm tuổi. Sau chùa còn đặt tháp xá lợi, trên các mặt khắc những chữ Phạn lớn, nằm ngay phía trên mái chùa Hạ. Chỗ này trông rất thâm nghiêm, không khuyến khích tạo dáng sống ảo.

Đi lên theo bậc đá là tới chùa Trung, hiện đang tu sửa sân chùa nên còn vương vãi khá nhiều gạch đá. Chùa Trung được ví như nằm trong miệng con rồng lớn, trên vách đá phía trên chùa còn khắc hai chữ “Bích Động” bằng chữ Hán, tương truyền là do chúa Trịnh Sâm ban tên cho chùa.

Bên trái chùa Trung có một hang nhỏ đi vào động Tối. Đường đi ẩm thấp đi vòng đằng sau chùa dẫn đến một cầu thang đá. Dưới chân cầu thang là một tấm bia lớn, chạm khắc chim thú và rồng phượng cực kì rõ nét và cầu kì. Tấm bia mới đến độ chẳng có cảm giác gì là nó được dựng cách đây 200 năm, chưa đọc được chữ Hán nên chịu không xác nhận được. Đỉnh cầu thang có treo một quả chuông, cũng cùng thời với cái bia.

Bước đi hết cầu thang này là vào động Tối. Đúng như cái tên của nó, động rất tối và không thắp đèn đuốc gì cả. Lý do một phần vì bảo vệ những nhũ đá bên trong, và đồng thời tránh kinh động đàn dơi sống trong động. Nên nếu có thấy quá tối thì chỉ nên chiếu đèn xuống chân để đi, đừng chiếu lên trần. Tuy tối nhưng động ngắn nên đi vài bước đã ra đến cửa.

Từ cửa động có thể nhìn toàn cảnh một vùng thung lũng phía dưới. Đi tiếp mấy chục bậc đá nữa, ngang qua một đoạn sườn núi được kè như hình bậc thang tạo thành những khoảng đất vuông nhỏ trồng cây đại và mấy loại khác, dễ làm liên tưởng đến vườn treo và ruộng bậc thang. Đi lên đến đỉnh là chùa Thượng. Chùa này rất nhỏ và bên trái có một khoảng đá rộng. Có biển “Cấm leo núi”, nhưng có một đoàn các anh Tây rủ nhau leo lên nên hai đứa con gái cũng máu me theo cùng.

Thật sự mà nói, người ta bảo cấm thì đúng là không nên vi phạm, mặc váy thì càng không nên. Đường leo lên trên ban đầu còn khá dễ, nhưng càng về sau càng treo leo, chỗ đặt chân không có. Chỉ biết có leo lên, ướm chân vào những dấu giày người đi trước đã làm mòn đá, cẩn thận bám chắc vào những ngọn lởm chởm của khối đá tai mèo, lên cao, lên cao mãi.

Đi gần đến đỉnh thì thấy một khe đá, nhìn qua bên kia là núi non trùng điệp. Khung cảnh không khác gì phim Avatar, cảm giác hùng vĩ đến nghẹt thở. Quay lại đã thấy nắng chiều đổ dài trên ngọn núi trước mặt, nhuộm vàng cả đồng lúa lên dưới.

Đẹp là thế nhưng đường lên rất nguy hiểm, trèo xuống càng nguy hiểm hơn vì đường rất dốc. Khi xuống được đến nơi thì chân đã run lẩy bẩy và toàn thân ướt sũng. Đúng là leo núi ngẫu hứng.

17h: Đi Thung Nắng

Ra đến bãi gửi xe đã có người trèo kéo đi Thung Nắng. Mới đầu không đồng ý, nhưng rồi lại quyết định đi. Giá cả thương lượng là 100k/người, chưa tính tiền tip. Được cái may mắn gặp cô lái đò vui tính, hỏi gì cô cũng xởi lởi trả lời.

Thung Nắng cách chùa Bích Động chỉ một đoạn ngắn, trên đường đi cũng thấy bến thuyền. Buổi chiều về càng ít người đi, cứ thế một thuyền độc hành đi vào Thung Nắng.

Hành trình đi vào Thung Nắng khi trời đã tắt nắng còn có dấu hiệu của mây đen, nhưng bù lại tiêu diêu tự tại, chỉ thấy phần đa là khách nước ngoài đi ra, không thấy mấy bóng người đi vào.

Khung cảnh Thung Nắng thật sự hoang sơ. Tuy cùng là núi là sông, nhưng cảm giác nét hoang sơ còn hơn nhiều so với Tràng An.

Đi tiếp vào trong có một hang gọi là Thung lũng tình yêu. Cô lái đò cũng chẳng biết tại sao lại gọi thế. Nhưng vừa tới cửa hang, khi soi đèn rọi xuống đã thấy nước trong vắt như pha lê, nhìn xuyên tới tận đáy rõ mồn một. Nước trong đến rợn người, cảm giác chỉ cần nhìn lâu là thấy được cả thuồng luồng bơi ở dưới. Nhưng may là chẳng có sinh vật nào xuất hiện dưới đáy hang, chỉ có những nếp đá lòng hang bị bào mòn như gợn sóng nhịp nhàng.

Hành trình Thung Nắng khá ngắn, chỉ hơn 1 giờ là đã đi ra. Trên đường đi cô lái đò trò chuyện rất vui, cô chỉ cho những hình thù kì lạ của đá nhô ra, có chỗ trông như cái đầu phượng hoàng, có chỗ lại như con chó canh cửa hang. Mặt nước thì trong vắt và ngập tràn rong đuôi chó. Cảm giác hoang sơ và cực kì trong lành.

Đi ra được nửa đường thì trời đổ mưa, những giọt mưa lõm bõm rơi trên mặt nước làm cho cảnh chiều vốn im ắng lại phủ trùm một màu buồn rất khác. Đi Thung Nắng mà gặp mưa, đúng là trải nghiệm có một không hai.

Kết thúc cuộc hành trình, quyết định trả cô cả thảy 250k. Biết là giá cao nhưng bù lại cảm thấy nhận được nhiều điều bổ ích.

18h30: Đón hoàng hôn trên bờ đê

May thay khi đi xe máy về homestay thì cơn mưa đã tạnh. Thật sự không hy vọng gì đón được hoàng hôn nữa vì thấy trời rất âm u. Nhưng khi đang lái xe ngang qua đồng lúa, trên con đường ven đê, một cảnh tượng thật sự choáng ngợp đã bày ra trước mắt.

Sau những rặng núi thấp phía xa, cả một vùng trời rực rỡ sắc đỏ như trứng lòng đào. Mặt trời không còn nhìn thấy dạng hình, nhưng ánh tà dương vẫn còn mạnh mẽ chiếu sáng cả một vùng rộng lớn. Cảnh vật phủ tràn một sắc đỏ hoàng hôn cực kì huy hoàng. Màu sắc thiên nhiên đẹp rực rỡ chỉ có thể chiêm ngưỡng một cách toàn bích nhất bằng chính đôi mắt người, vì không một chiếc điện thoại, không một phần mềm chụp ảnh nào có thể lột tả được hết.

Chụp kiểu gì cũng cảm thấy bất lực trước vẻ đẹp của hoàng hôn

19h: Về tới homestay

Trời vừa sập tối thì đổ mưa. Lười quá chẳng muốn đi đâu, lại order đồ ăn ngay tại homestay. May là bữa tối khá ngon và đầy đủ. Đang chán nản không biết làm gì thì trời tạnh.

21h: Đạp xe đêm

Thú thực thì đây là hành động dở người đứng thứ hai của hai đứa (cái thứ nhất sẽ diễn ra vào ngày mai). Vì quá chán nên đã quyết định mượn xe đạp chạy vòng vòng.

Khuyên chân thành với các bạn nữ là không nên đi. Vì đường ở Ninh Bình, nhất là khu ngoài thành phố hầu hết là không có đèn điện, đi xe đạp phải soi flash mới thấy đường.

Hai đứa đạp xe một lát thì ra đến đường Tràng An. Tuy đường này có đèn nhưng lại vắng hoe, thỉnh thoảng mới có người đi lại. Hai bên đường toàn rừng núi tối om, đạp xe chầm chậm có cảm giác rất cô liêu.

Cảnh lúc ấy trông không khác gì trong phim kinh dị

Đạp xe đến tận cổng Tràng An thì quay lại chứ không dám đi xa. Ninh Bình về đêm rất hiu quạnh.

Ngày 2: Hang Múa – Thung Nham – Vân Long

5h30: Hang Múa

Đã không có cơ hội ngắm hang Múa hoàng hôn, nên quyết định sẽ đi săn bình minh.

Đi hang Múa sớm nên chỉ mới có vài người tới, giữa đường vào trong còn bị người ra tuýt còi, bảo không cho đi xe vào, trong khi còn tận mấy trăm mét nữa mới vào đến nơi. Đã đọc qua nhiều review trên mạng nên cứ phăm phăm phi xe thẳng vào trong. Ngay chỗ bán vé là nhà xe.

Giá cả vé 100k/người. Gửi xe 10k/xe máy.

Dưới chân núi là cả một khu sinh thái, tuy nhiên giờ sớm mọi hoạt động mua bán đều chưa bắt đầu.

Hang Múa chắc đã quá nổi tiếng với các tín đồ sống ảo, trên đỉnh núi có hai điểm viewpoint. Đỉnh thấp hơn nằm bên đường lên bên phải, có bảo tháp trứ danh và cao hơn là đường lên bên trái, có con rồng đá và tượng Quan Âm trên đỉnh.

Lưu ý là đường lên hang Múa nằm ở phía Đông, nên đi buổi sáng thường bị nắng. Mọi review để lại vẫn khuyến khích nên đi buổi chiều, vừa mát vừa ngắm được hoàng hôn. Nhưng vào lúc đầu giờ sáng, nắng còn chưa lên nên không thấy nóng cho lắm.

Khi tới chỗ chia đôi có hai đường lên thì chọn đi bên phải, chỗ thấp hơn trước. Đường đi không quá vất vả. Trên đỉnh núi không chỉ có cái tháp, nó còn là một vị trí rất đẹp để quan sát toàn bộ ruộng đồng bên dưới. Đi đúng vào tháng 5 mùa lúa chín nên không gian ngập một sắc vàng rực rỡ. Thậm chí có thể phóng tầm mắt ra rất xa, nhìn thấy những tòa nhà của thành phố nằm trong lớp sương mờ ảo.

Chụp ảnh chán chê thì leo lên đỉnh con rồng. Đường đi dài hơn nhiều, bậc cao nhưng bù lại khung cảnh thật sự tuyệt vời. Đi được dăm bước phóng tầm mắt xuống dưới đã thấy một cảnh sắc khác, nhất là khi dừng lại tại những chỗ khúc quanh. Trên đỉnh núi là nơi có tầm nhìn đẹp nhất xuống khu Tam Cốc ở bên dưới. Gió rất mát và không khí trong lành cực kì, xua tan đi mọi mệt mỏi trên đường leo lên.

Đình Quan Âm có bức tượng bằng đá trắng, mặt quay về hướng đông đón mặt trời. Phía sau là một con rồng lớn uốn khúc mềm mại, nằm treo leo trên những mũi đá lởm chởm của đỉnh núi. Leo lên đầu rồng thì còn khả thi, chứ với người ít máu liều và lười vận động thì đuôi rồng hoàn toàn không nên đi tới. Vách đá rất cheo leo nguy hiểm, tuy nhiên cảnh sắc bên dưới lại cực kỳ tuyệt vời.

Ngồi dưới đầu rồng, thu hết non nước vào trong mắt, cảm thấy như đang đứng trên cả thế giới với một sức mạnh siêu việt phi phàm. Nghe nói núi này còn gọi là núi Ngọa Long, nghĩa là con rồng nằm, giống như con rồng an ổn ngóc đầu ngắm giang sơn gấm vóc.

9h: Thung Nham

Lúc ấy có suy nghĩ rất đơn giản là đi giờ đó và ăn trưa tại Thung Nham. Nhưng mọi tính toán bị lố khá nhiều nên đã mang lại một trải nghiệm có một không hai.

Đường lên Thung Nham khá dễ đi, có cái hơi xa chỗ nghỉ một chút (khoảng 13km). Giá vé vào cửa 100k/người. Vé xe máy 10k/xe

Vào đến nơi thì nắng đã lên cao cao, nhưng không nóng rát vì đường đi có nhiều cây được cắt tỉa gọn gàng và rất gần bến thuyền.

Điểm đến đầu tiên là hang Bụt. Một thuyền đi 3 người, đủ (tiền) mới đi nên 2 đứa vẫn mua 3 vé để được đi luôn.

Đường vào Hang Bụt

Giá vé 20k/người. Tổng cộng mất 60k.

Hang Bụt dài khoảng 500m. Cửa hang không quá nổi bật nhưng khi vào trong, gần cửa hang có một nhũ đá trông như cô tiên nằm ngủ  Vào sâu bên trong nơi trần hang cao hơn có một nhũ đá hình ông bụt, tương truyền rất linh thiêng. Cô lái đò còn đọc cả một bài ca dao về hang này, nghe rất hay nhưng nhanh quá nên không nhớ được.

Điểm thú vị là trên trần hang có rất nhiều dấu vôi đánh dấu đường đi. Cô lái đò nói rằng đó là ngày xưa người dân thường dùng hang này để trở nông sản qua lại giữa các huyện. Đi lại trong hang thường đi bằng đuốc, nên đến giữa hang mà đuốc tắt có thể dùng dấu vôi để định hướng đường ra. Đi hết hang thì phải quay lại vì khu du lịch đã ngăn thành các tuyến đường. Trong hang còn có đường thông vào động Tiên Cá, nhưng cũng bị rào lại để tránh rác trôi vào động.

Đi hết hang Bụt thì lên bờ khám phá tiếp động Tiên Cá.

Đường vào động này nằm ngay cạnh cổng chào đề “Thung Nham bird park” làm bằng cây cắt tỉa cẩn thận. Muốn vào động phải leo mấy chục bậc thang, và xuống động phải đi theo một cầu thang sắt rất dốc.

Điểm đặc biệt của động Tiên Cá là sẽ đi trên một hệ thống cầu phao bằng tre nổi trên mặt nước. Một tuyến khá dài và có nhiều đường rẽ, nhưng dành thời gian trong động này thật sự không uổng phí.

Ngoài trời đang nắng nóng, nhưng trong động rất ẩm và mát. Trên trần đá thấp, có đoạn chỉ cao khoảng 1m, những giọt nước trong vắt đọng lại rồi chậm rãi nhỏ xuống. Đèn thắp xanh đỏ rất ảo diệu, có lúc tưởng như tới nơi thiên đàng, có khi lại làm người ta liên tưởng tới địa ngục. Nước trong động cũng rất trong và mát, có chỗ nhìn thấu tận xuống đáy. Những con cái nhỏ xíu bơi tung tăng trong nước, chỉ cần có tay người thò xuống mặt nước là bu đến đen đặc. Đang thư thả nghịch nước thì cá bu vào rồi tay chạm vào da trơn của nó thì giật nẩy mình, cảm giác trơn nhuồi chưa bao giờ quen được.

Vừa cúi vừa đi, cứ đi mãi, đi mãi. Vừa cảm thấy cách ly dần với thế thới thì ra đến một cửa hang khác. Chỗ này rất đẹp, trần cao rộng và sàn đá đẽo thành nhiều bậc. Nắng buổi trưa xiên xiên vào cửa động qua tán lá, trông đẹp một cách rất hoang dã.

Ra đến ngoài đường thì chẳng biết đang ở chỗ nào, theo cảm giác cứ đi thẳng con đường trước mặt. Đường rải đá dăm chạy vòng quanh một cái hồ, bên hồ còn có một thảm hoa cánh bướm vàng rực, lại có một vườn cỏ cao trông như lá mía xanh nõn trong nắng. Vì cảnh quá đẹp nên mặc kệ giữa trưa nắng vẫn kiên quyết dừng lại sống ảo. Xong rồi mệt gần chết đành nghỉ chân tạm dưới mấy gốc đa, gốc si cổ thụ thả bóng xuống lòng hồ.

11h trưa, đứng trước ngã rẽ vào vườn chim và cây duối ngàn năm, quyết định đi cây duối.

Đường đi qua một cây cầu vòng cung, bắc ngang qua hồ nước. Cảnh từ bên trên thì rất đẹp, khi có cảm giác như đang đứng ở giữa hồ, nhưng giữa trưa nắng chiếu thẳng đầu thì rát không có chỗ trốn.

Đi sâu vào nữa là đoạn đường cầu tre, sau đó là đoạn đường mòn kè đá. Đi một đoạn xa nữa thì gặp khu miệt vườn và một cái cây đứng trơ giữa đường, bóng tỏa rất rộng. Mãi sau mới biết đấy là cây duối tình nhân, khi hai thân quấn chặt vào nhau và đứng riêng một chỗ không liên quan đến ai cả. Còn đường đến khu rừng nguyên sinh và cây duối ngàn năm thì còn xa.

Thảm cây dại ở vườn táo

12h trưa, cuốc bộ lầm lũi trên con đường ra bến xe. Lại đi vắt ngang qua quả đồi có hình mặt trăng thì thấy đền Gối Đại và cây đa di chuyển. Xa hơn một chút có bến thuyền đi vườn chim. Nhưng giữa trưa nắng chẳng ai phục vụ, đành quyết định ra bến xe đi về, mệt chẳng buồn ăn uống gì.

Đi Thung Nham về kinh nghiệm xương máu là trên cái vé có sẵn bản đồ, và nên chọn đi tuyến đò vườn chim sớm hơn. Tốt nhất nên dành cả ngày để khám phá Thung Nham.  

16h: Đi đầm Vân Long.

Phần vì buổi trưa về rất mệt và nóng, phần vì trời nắng to mãi đến tận chiều, hành trình đi Vân Long bắt đầu khá muộn.

Vân Long cách homestay khoảng 20km, đường đi không khó nhưng hơi xa với những đứa không hay đi phượt. Khi gần đến nơi sẽ đi trên một đoạn đê dài sát đầm, lúc ấy mới thấy hết cái rộng lớn của vùng đầm Vân Long này.

Khu mua vé nằm đối diện bến thuyền, chú ý là đừng gửi xe ngay ở ngoài (chỗ cạnh khách sạn) mất 10k mà cứ đi thẳng vào khu bán vé.

Vé cho 1 thuyền 2 người là 60k,  vé thăm quan 2 địa điểm là 40k. Tổng cộng 100k. Đoạn đường này khá ngắn, đi chỉ khoảng 1 tiếng. Tuy nhiên các bác lái đò có thể đề xuất thêm một cung đường mới nữa chưa đưa vào khai thác, giá 100k chưa tính tip. Cái này nên đi vì có nhiều cái đẹp hơn cung kia rất nhiều.

Chiều tà không có cơn mưa, nhưng mây rất dày đã che mất cả mặt trời, chỉ còn ánh sáng rực rỡ cố trào lên hắt sáng vào nền trời tạo thành một vệt dài như làn sóng.

Đầm Vân Long lấy nước từ hai con sông, sông Đáy và sông Hoàng Long. Ngày xưa đầm có 2 mùa nước, mùa cạn nông dân vào trồng lúa ta đến tận chân núi, đầu mùa nước cũng khoảng đầu tháng 5 thì đi thuyền vào gặt. Cả năm chỉ trồng được một vụ lúa. Nhưng sau khi định hướng phát triển du lịch thì đã cho đắp đập giữ nước trong đầm, thành ra không trồng cấy nữa. Lúa không có nên cỏ lác mọc khắp nơi. Nông dân có thêm nghề trèo đò, nhưng 7-10 ngày có khi mới được một chuyến.

Lên thuyền của một bác lái trông rất thuần nông và hiền lành, thân hình gầy gò nhưng đôi tay chèo thì rất khỏe. Thuyền lướt băng băng qua những đồng cỏ lác, những vạt lau sậy dưới chân núi đen.

Nghe nói núi Vân Long có vọoc, những con vọoc quần đùi trắng ngày mát trời sẽ thò đầu ra ngắm du khách, nhưng hôm nay nhìn mỏi mắt cũng không thấy con nào.

Khung cảnh đầm Vân Long rất nguyên sơ, với những dãy núi đen trơ trọi và những bụi sậy ngả nghiêng trong gió chiều. Nền trời xanh thẫm dần càng làm quang cảnh trở nên bình lặng.

Thuyền đi qua 1 cái hang gọi là hang Bóng, cũng chẳng biết tên gọi có từ đâu. Nước trong hang cũng rất trong và nhiều đoạn trần hang cực thấp, phải gần như nằm bò ra thuyền với qua được.

Đường vào hang Bóng

Đầu kia của hang đi vào một khu đúng chất đầm lầy. Cỏ được rẽ ra tạo thành một lối đi vòng tròn trong một thung hẹp. Dưới nước, rong đuôi chó mọc ngập sát mặt nước. Hai bên bờ, cây dại và cây dây leo xà cành xuống rất thấp. Chiều về ếch nhái kêu thủng thẳng, không gian yên ắng và ánh sáng tắt dần sau những ngọn núi cao, cảm giác vô cùng tịch liêu.

Ra khỏi Hang Bóng, thay vì quay thuyền về bến, bác lái chở tiếp qua một cung đường mới. Cảnh sắc đồng nước lại trải dài ra trước mắt. Đi vào một vùng nước trông rất quen, hóa ra bác lái nói rằng chính là chỗ đóng phim Kong. Quả nhiên phong cảnh vô cùng hoang dã, tưởng như chưa từng có dấu vết con người lưu lại, cả một vùng rộng lớn vừa hùng vĩ vừa mênh mông. Bác kể đợt ấy họ kết bè mảng rất lớn ngay dưới mặt nước, diễn viên của họ hoàn toàn là đi trên bè để đóng phim.

Sau khi rẽ vào một khúc quanh, thuyền đi sát con đê ngăn cách Ninh Bình với Hà Nam. Cạnh đó có một quả núi đá vôi trông giống hệt như ở vịnh Hạ Long. Phải công nhận là rất giống. Tuy chân núi bào mòn ít hơn một chút, nhưng bên trên hoàn toàn không có cỏ cây, đồng thời có một thế núi làm người ta lập tức liên tưởng đến danh hiệu “vịnh Hạ Long trên cạn”. Bầu trời buông mây trông như mặt con rồng vàng khắc trên đầu bia đá, có một khoảng mây bị cắt vuông vức như dùng dao mà xén.

Bóng núi hắt lên nền trời cắt vào mây một một nhát rất ngọt

Đi tiếp một đoạn nữa thì bóng chiều dần đổ trên đầm Vân Long, tuy chỉ là một chút dáng hồng đào nhợt nhạt ở góc trời xa. Trời dần nhá nhem, đi ngang qua những ngôi mộ táng cũ nằm ở nơi địa thế rất đẹp mà không khỏi cảm thấy không gian thêm lạnh. Vân Long lúc nhập nhoạng càng thêm phần xa rời nhân thế.

Thuyền về bến khi sắc trời đã muộn, lúc này mới biết sự tích cái tên đầm Vân Long. Những dãy núi nhấp nhô, ẩn hiện như những con rồng ẩn trong mây. Bước chân lên bờ đê, giờ chỉ còn thấy những dãy núi là những con rồng đang chìm dần vào giấc ngủ.

Đến đây thì chuyến vãn cảnh Ninh Bình đã kết thúc, nhưng chuyến hành trình khám phá vùng đất này thì vẫn còn chưa hết. Đường về từ Vân Long chắc chắn là một trải nghiệm không bao giờ quên.

KHÔNG CÓ ĐÈN ĐƯỜNG, ngay cả đường to vật vã ở Ninh Bình cũng KHÔNG CÓ ĐÈN ĐƯỜNG chứ đừng nói gì đến vùng thôn làng. Lại được hai đứa con gái dở hơi không tin Google maps, chọn ngay đường Tràng An heo hút mà về.

Thề chứ đây chính là việc làm dở hơi nhất trong cả chuyến đi rất chi là tuyệt vời này. Đường thì vừa vắng vừa tối, đèn xe máy chỉ leo lét chiếu sáng chưa đến 1 m trước mặt, xẹt ngang xẹt dọc khắp những con đường tối om không một bóng người. Rồi phải đến gần gấp đôi số thời gian cần thiết mới thở phào về đến ngõ quen.

Hơn 19h30 : về đến homestay, tắm rửa rồi check-out.

20h15: lại phóng xe qua hết những cung đường tối tăm vào lại thành phố để lên limousine về Hà Nội.

Vội còn không kịp ăn đặc sản. Lại mỗi đứa một cái bánh mì trứng ngồi nhai nuốt cho đỡ đói lòng.

21h: lên xe Khánh An limousine về Hà Nội.

Là chuyến muộn nhất có thể đặt (vì cái tội ham chơi quên lối về).  Vé xe 135k/người.

Xe đi cực nhanh, mỗi tội ngồi cuối nên xóc kinh hoàng, nhưng may thay vì quá mệt nên cũng đã ngủ được một giấc.

22h15: Đã về tới Hà Nội, kết thúc hành trình Ninh Bình 2 ngày và (hơn) 1 đêm.

Đánh giá chung: một chuyến đi cũng là thành công mĩ mãn, biết thêm được nhiều điều, rút thêm một số bài học kinh nghiệm. Cảm giác để lại thậm chí còn tuyệt vời hơn lần đi trước, theo một cách rất phóng khoáng và đầy sự trải nghiệm.

DO NOT GO GENTLE INTO THAT GOOD NIGHT

Đó là tên một bài thơ của Dylan Thomas mà tôi tình cờ biết được trong một bộ phim của Christopher Nolan – Interstellar.  Khi mới đọc nó, mọi câu chữ và lối diễn giải hoàn toàn lạ lẫm và khó hiểu, nhưng rồi một sự việc đã khiến tôi nhận ra và xúc động sâu sắc vì ý nghĩa của nó.

Một ngày thứ bảy oi bức và mệt mỏi, trên khoa H7 Điều trị hóa chất của Viện Huyết học và truyền máu Trung ương, có một bệnh nhân được chuyển vào phòng cấp cứu. Ông hơn bố tôi có 5 tuổi, nhưng già khọm gấp đôi số tuổi ấy, xanh xao và xuất huyết khắp người. Bệnh nhân mắc một căn bệnh gọi là suy tủy. Ngày hôm nay ông đột nhiên sốt cao, khó thở nhiều, kiểm tra thì mạch nhanh huyết áp hạ, ông rơi vào một tình trạng mà y khoa gọi là sốc nhiễm khuẩn, có thể nói là ngàn cân treo sợi tóc.

Anh bác sĩ trực, nhìn còn khá trẻ và rất dễ gần, hướng dẫn tôi về tình trạng bệnh và theo dõi bệnh nhân. Sau nửa ngày điều trị và theo dõi mỗi nửa tiếng một lần, huyết áp đã lên và mạch cũng ổn định trở lại. Người nhà thấy bớt lo. Nhưng anh bác sĩ sau khi giải thích rằng tình trạng có thể xấu đi bất cứ lúc nào thì im lặng, sau đó mới nói nhỏ với tua trực: “Cố gắng duy trì tới sáng mai”.

Tôi đã nghĩ rằng đến đây ngày trực đã không còn việc gì nữa. Mới chợt nhớ ra bài thơ đó, thế là ngồi tra mạng và quyết định chép lại nó thật đẹp. Vừa viết xong thì người nhà hớt hải chạy ra.

Mọi thứ xảy ra nhanh hơn mọi tính toán, anh bác sĩ trực vội vã chạy vào phòng cấp cứu. Trên monitor nhịp tim chỉ còn 40, người nhà, cả vợ cả con cái và anh chị em nhấp nhổm không yên, bác sĩ lúc này vô cùng lặng lẽ và bình tĩnh, mời gia đình ra quầy hành chính.

Cái thủ tục hành chính mà tôi cho là đau xót nhất, lúc này đã diễn ra: gia đình kí giấy xin về. Không nói thì ai cũng ngầm hiểu, xin về lúc này là để bệnh nhân có thể trở lại nơi thân thương gọi là nhà một lần cuối trước khi ra đi.

Người con gái lớn không kìm nổi nước mắt, sau khi kí giấy tờ xong đã nức nở không ngừng. Một lát sau một cô gái nữa hớt hải chạy lên, bàng hoàng không nói nên lời. Người vợ không còn đứng vững, ngồi ở ghế hai tay đấm ngực và chân đạp mạnh xuống nền đất, bà vừa gọi tên ông vừa nấc nghẹn.

Lúc này tôi mới chợt nhận ra, bài thơ ấy từ ban đầu đã ở đây, sống dậy trong từng hơi thở của người đàn ông và trong từng ánh mắt của những người thân ở lại bên cạnh giường.

Do not go gentle into that good night

Đừng ra đi êm ả vào đêm đen….

Do not go gentle into that good night,
Old age should burn and rave at close of day;
Rage, rage against the dying of the light.

Đừng ra đi êm ả vào đêm đen…

Tuổi già hãy bùng cháy và nổi dậy khi ngày tàn

Vùng lên, vùng lên chống lại ánh sáng đang chết dần

Một con người đang nằm đó, toàn thân toát mồ hôi vì sốt cao, hơi thở nặng nhọc cố gắng thu lấy từng ngụm không khí. Xung quanh ông là những gương mặt thân quen mong ông không đầu hàng. Người đàn ông ấy, vẫn còn tỉnh táo, ý thức ông vẫn yêu cầu ông chiến đấu, và ngay cả thân thể cũng đang dồn toàn lực để cố níu lại một chút ánh sáng của cuộc đời. Lồng ngực co rút không ngừng những mong lấy thêm được chút oxy, và quả tim đập như điên dại để cứu lấy những cơ quan đang gào thét vì  không thể thở được, để chống lại bóng đêm của cái chết đang dần bao phủ. Đó là một cuộc chiến anh hùng và dũng cảm không được ghi lại trong bất cứ quyển sách lịch sử nào nhưng vẫn diễn ra hàng ngày hàng giờ trong những phòng cấp cứu trên khắp thế giới này.

Though wise men at their end know dark is right,

Because their words had forked no lightning they

Do not go gentle into that good night.

Good men, the last wave by, crying how bright

Their frail deeds might have danced in a green bay,

Rage, rage against the dying of the light.

Wild men who caught and sang the sun in flight,

And learn, too late, they grieved it on its way,

Do not go gentle into that good night.

Grave men, near death, who see with blinding sight

Blind eyes could blaze like meteors and be gay,

Rage, rage against the dying of the light.

Dù là ai đi chăng nữa, là người thông tuệ, người tốt bụng, người phóng khoáng hay uy nghiêm thế nào, cuối cùng cũng sẽ xuống mồ, cũng sẽ phải chết. Cái chết là một điều tất yếu mỗi chúng ta phải trải qua. Ai cũng biết vậy nhưng không bao giờ ta muốn thấy một người thân yêu rời xa khỏi ta, nó đau đớn và quá đáng sợ ngay cả khi chỉ là tưởng tượng. Đó là lý do vì sao cả gia đình họ ở đây, vượt nhiều cây số để tụ họp ở bệnh viện này, để ở bên cạnh người thân của họ. Để cổ vũ động viên và hơn hết là tiếp thêm sức lực cho sợi dây níu kéo sự sống mà người bệnh đang nắm giữ.

And you, my father, there on the sad height,
Curse, bless me now with your fierce tears, I pray.
Do not go gentle into that good night.
Rage, rage against the dying of the light.

Đây là một bài thơ tác giả viết khi cha mình sắp qua đời. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao khi đọc đến đây lại thấy thương những người con đến thế. Chẳng biết nói gì hơn, chỉ muốn trích dẫn lại câu nói trong bộ phim của Christopher Nolan:  

“Một khi chúng ta trở thành bố mẹ, chúng ta chỉ là bóng ma của tương lai con cái chúng ta”

“Chúng ta rồi chỉ còn là những hồi ức của con cái chúng ta”

Christopher Nolan

Điều gì cần đến cũng phải đến, trong cuộc chiến không cân sức với cái chết, không phải lúc nào chúng ta cũng chiến thắng. Lời cầu nguyện của những người con cứ yếu dần rồi đột nhiên nghẹn lại. Trái tim sau những giây phút vắt kiệt sức lực cuối cùng cũng gục ngã. Khi mà hai lá phổi ngập nước không còn nơi nào để trao đổi oxy nữa, đó là khi ánh sáng cuộc đời sẽ tắt hẳn. Và màn đêm sẽ đến bao lấy con người đó, nhưng ông cuối cùng cũng có thể tự hào rằng mình đã không ra đi êm ả vào đêm đen…

Huyết học Trung Ương, 2017

Viếng nghĩa trang liệt sĩ

Khi người ta nhận ra mọi điều xảy ra trong đời, đều có những ý nghĩa sâu sa nào đó, chỉ là ta không có đủ thời gian dành cho nó, sẽ chợt cảm thấy muốn sống chậm lại thêm một chút.

Nghĩa trang cuối buổi chiều nổi gió như càng trở nên hiu hắt. Nằm giữa cánh đồng mênh mông, xung quanh bạt ngàn những lúa và rau, một khoảng đất nhỏ trầm mặc và yên tĩnh đến lạ. Chỉ còn nghe thấy gió xào xạc thổi những tán lá ở đâu đây, đưa vọng lại như là từ xa lắm.

Cánh cổng đóng kín, không rõ người quản trang đang ở chỗ nào, thế là nhằm bờ tường thấp, mấy thanh niên trẻ tuổi cứ thế nhảy vào.

Cũng không phải là dễ dàng khi đáp xuống mặt đất đầy lá khô, bước mấy bước đều kêu lên rôm rốp. Nhưng quang cảnh trước mắt khiến người ta thậm chí không muốn cười nhau, không trèo qua được mà còn phải đỡ nhau đến tội. Chỉ còn muốn im lặng, mà chầm chậm bước đi. Những ngôi mộ nhỏ, trải dài đều nhau tăm tắp, kiêu hãnh dưới trời âm u, ánh lên một sắc đỏ sao vàng.

Nghĩa trang liệt sĩ là nơi nằm lại của những người con đất này đã anh dũng chiến đấu cho Tổ quốc, và ra đi trong cuộc chiến tranh trường kì ấy, là nơi anh linh của họ mãi mãi được tưởng nhớ đến. Trong những người ấy, có bác tôi, một người tôi chưa hề biết mặt.

Ngôi mộ nhỏ nằm gần cuối dãy bên trái, trông giống như bất kì một ngôi mộ nào khác ở đây, ốp đá đỏ và bên trên có một ngôi sao sơn màu vàng. Bụi lá đã phủ một lớp mỏng trên lớp đá, như đánh dấu từ ngày cuối cùng có người tới đây. Anh chị em chúng tôi lau sạch bụi, rồi cắm những bông cúc trắng vào lọ. Mỗi người cầm vài nén nhang, cắm vào bát hương. Anh tôi mở bao thuốc, châm một điếu rồi cũng cắm lên một que nhang đã cháy hết chỉ còn lõi gỗ. Điếu thuốc lá không người hút vẫn cháy đỏ, khói thuốc bay ra bảng lảng theo từng cơn gió thổi.

Nghĩa trang vắng lặng, chỉ có mấy người chúng tôi. Từ những kẽ đất, cây cỏ mọc um tùm. Sau đài tưởng niệm, cỏ lau mọc cao đến bắp chân, ôm lấy con đường nhỏ. Cúi xuống ngắt một bông lau, rồi để những cánh lông nhỏ tí bay bay theo gió, chợt càng cảm thấy hiu quạnh. Không khí như đặc quánh lại, khiến người ta không muốn nói quá to, hay cười đùa quá trớn một chút nào. Đi qua những ngôi mộ thành hàng, dường như cứ muốn nín lại để không làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người nằm dưới.

Tiếng động như bị hút lại, trong một bầu không khí lạnh lẽo và xa rời nhân thế. Trên cao, bầu trời âm u nặng những mây che, dường như càng ngày càng sà xuống thấp. Thỉnh thoảng lại ù ù rì rì một tiếng máy bay ngang qua đi từ sân bay Nội Bài, nhưng không thể nhìn thấy.

Ta biết được có một chiếc máy bay đang qua khi không hề nhìn thấy nó, bởi vì ta vẫn còn nghe thấy tiếng động cơ. Nhưng trên đời, ngoài những gì mắt thấy tai nghe, dường như có cả những điều luôn luôn tồn tại, luôn luôn ở đó nhưng ta không thể nào nhận ra được. Như là những linh hồn, liệu họ có thật sự đã rời xa ta? Hay chỉ đơn giản là vì những giác quan này khiến ta không thể thấy được sự có mặt ấy? Điều này chưa ai trả lời được thỏa đáng, nhưng nghĩ đến đó, khiến tôi chợt thấy lành lạnh, vội quay về với anh chị em tôi, những người ít ra vẫn đang thật sự hiện hữu ở đây.

Chúng tôi đang đợi tuần nhang cháy hết, coi như là người dưới mộ đã nhận được lòng thành của con cháu. Thuốc lá đã cháy gần hết điếu thứ hai, câu chuyện của chúng tôi cứ lan man đi mãi. Những người trẻ, đang nói chuyện tương lai, trước mộ những người trẻ khác, nhưng cuộc đời đã là quá khứ.

Bác tôi ra đi từ khi còn rất trẻ, như một tuổi xanh bị chôn chặt dưới những tấc đất lạnh lẽo và già nua. Người ấy, có lẽ cũng chung những ước vọng cuộc đời, những mong muốn về tương lai sau này có một công việc, có một gia đình và có những đứa con như chúng tôi bây giờ. Người ấy, chắc hẳn cũng yêu mến cuộc sống, có khi còn hơn cả chúng tôi ngày hôm nay. Nhưng đã lựa chọn sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng đánh đổi tất cả hạnh phúc cá nhân dù là nhỏ bé ấy. Vì điều gì chứ? Có khi nó chẳng to tát như lý tưởng hay đất nước. Có khi nó chỉ đơn giản như là gia đình, những anh chị em, và cha mẹ còn đang sống, và sẽ được sống trong hoà bình. Tình cảm luôn là thứ có sức mạnh lớn lao nhất, dù nó có thể xuất phát từ những điều chỉ vô cùng nhỏ bé.

Chết cho lý tưởng. Điều tưởng chừng như chỉ dành cho số ít các vĩ nhân, các nhà cách mạng lỗi lạc, thì giờ đây, thật sự đang hiện hữu trong từng ngôi mộ nơi đây. Qui tập từ khắp mọi miền đất nước, có ngôi mộ còn chưa thấy hài cốt, nhưng dường như anh linh của cả một thế hệ anh hùng đã tụ hội lại về đây, nơi chôn rau cắt rốn đã làm nên những con người vô cùng anh dũng ấy.

Âm vang của tuổi trẻ, dường như vọng lại như một lời đáp, khi tôi chắp tay vái lạy lần cuối trước khi ra về. Cảm thấy như có một nguồn động lực nhỏ đẩy nhẹ giữa hai bả vai, thúc ta tiến về phía trước, đi về phía tương lai.

Bước ra ngoảnh đầu lại, vẫn thấy gió xào xạc qua tán cây ở đâu đây, và những ngôi mộ vẫn nằm lặng yên dưới ánh chiều nhập nhoạng.

Ở một góc nhân gian : câu chuyện chiến tranh và bài ca về hạnh phúc

Nhắc đến những tác phẩm viết về thời kì chiến tranh, chúng ta thường nghĩ đến điều gì ? Những mất mát đau thương và chia ly? Sự anh dũng và lý tưởng? Hay là sự tàn khốc của cuộc chiến? Chắc chắn đó sẽ là những điều đầu tiên hiện ra trong đầu chúng ta. Chiến tranh dù nói theo cách nào, cũng luôn gây ra những cảm giác vô cùng tiêu cực và mạnh mẽ. Nhưng đi ngược lại những điều ấy, Kono sekai katatsumi ni lại là một câu chuyện về hạnh phúc vô cùng giản đơn, ngay chính trong thời gian loạn lạc của Chiến tranh thế giới thứ Hai.

Điều đầu tiên tôi cảm nhận về bộ phim này chính là cảm giác đơn giản đầy hạnh phúc.

Nhân vật chính Suzu, một cô gái tự nhận là ngốc nghếch, không giỏi điều gì ngoài làm rong biển và vẽ tranh, sinh ra và lớn lên trong chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc sống của cô, nhẹ nhàng trôi qua với những niềm vui nho nhỏ.

Đây đó trong cuộc sống, những dấu ấn chiến tranh dần đậm nét, nhưng những chi tiết ấy đều không được coi là to lớn, mà chỉ đơn giản như cuộc đời vốn phải như thế. Từ chuyện gia đình phải thắt lưng buộc bụng vì kinh tế khủng hoảng, đến chuyện khẩu phần ăn giảm dần do đất nước đang thiếu lương thực nghiêm trọng, Suzu đối mặt tất cả với một tư tưởng tự nhiên, không một câu oán thán, không một điều suy nghĩ. Cô chấp nhận hiện tại, và luôn vui vẻ sống yêu đời và hạnh phúc. Dường như với cô, chiến tranh vẫn còn là một thứ gì ở xa lắm, cô đã nghĩ “Mùa hè đã đến, dù cho có chiến tranh, ve vẫn kêu và bướm vẫn bay lượn”. Trong góc nhỏ của thế giới, những biến động khủng khiếp của thời đại bấy giờ vẫn chỉ là những gợn sóng lăn tăn đập vào chân cô gái trẻ vô tư. Cô luôn cho rằng mình là kẻ mơ mộng, và sống trong những giấc mơ kí ức khiến cô thấy hạnh phúc vô cùng.

Phải nói rằng, chính cuộc đời nhỏ bé ấy, khiến cho nửa đầu bộ phim trở nên vô cùng đáng yêu. Từ cách Suzu ngốc nghếch gặp ông ba bị, sống cùng với mẹ cha và anh chị em, đến khi đi lấy chồng xa, và cuộc sống làm dâu của cô ở một nơi đất khách quê người. Mọi thứ đều rất đỗi bình dị. Chỉ là những điều nho nhỏ như bữa cơm chiếc áo, nhưng lại khiến người ta cảm thấy được niềm hạnh phúc thật sự. Cuộc sống của Suzu, vượt lên những yếu tố thời đại, đến đây đều bình dị trôi qua như bao con người khác.

Rồi điều gì đến cũng phải đến, bước ngoặt thật sự thay đổi cuộc đời và suy nghĩ của Suzu chính là sự việc cô mất bàn tay phải, và mất đi cô cháu gái. Cô đã tỉnh dậy trong một cảm giác đau đớn, không chỉ về thể xác, mà còn là tâm hồn đã bị tước đi những mơ mộng và hạnh phúc. Bàn tay phải, bàn tay cô vẽ nên mọi thứ, bàn tay cô chạm vào những người yêu thương, bàn tay cô nắm lấy cô cháu gái nhỏ trước khi bom nổ, đã biến mất khỏi cõi đời như một giấc mơ bị tước đoạt. Cô gái tỉnh dậy khỏi giấc mộng hạnh phúc và buộc phải đối mặt với hiện thực trần trụi và đau đớn của chiến tranh.

Nhưng điều ấy không kéo dài được lâu, hạnh phúc nhỏ của cô gái trẻ cuối cùng cũng bị chiến tranh thử thách. Khi máy bay địch bắt đầu đánh bom Kure, Suzu không chỉ đối mặt với sống chết, mà còn phải đối mặt với chính sự lạc quan của mình. Chiến tranh mang đến tai họa, đến những ngôi nhà bị phá hủy, đến những con người ra đi không trở lại. Nhưng những điều ấy, với cuộc sống ngày một khó khăn, không dập tắt được tinh thần và nghị lực sống phi thường của người dân nơi đây. Ngay cả lúc này, Suzu chưa một lần thật sự nghĩ về chiến tranh và những đau thương của nó, cô đơn giản là chờ đợi những khó khăn này qua đi để trở về với cuộc sống hiện tại.

Vượt lên trên tất cả, cô quyết định phải sống mạnh mẽ như tất cả mọi người, và vượt qua cuộc chiến. Hình như trong sâu thẳm trái tim mình, cô vẫn đang mơ về một chiến thắng, rồi cuộc sống sẽ trở lại như nó vốn có, miễn là cố gắng qua được cơn ác mộng này. Sự kiện ở Hiroshima không giết chết được giấc mơ của cô, sự ra đi của gia đình và những người cô yêu quí, làm cô đau buồn nhưng không thể khiến cô suy sụp. Thế nhưng cuối cùng, lời tuyên bố đầu hàng đã chấm dứt tất cả. Cô không muốn tin vào điều đó và đã ước rằng “mình chỉ mong muốn được chết như một kẻ mơ mộng”.

Thực tế đã xảy ra, chúng ta đã đầu hàng trước bạo lực. Ở đây, có lẽ không phải là đầu hàng trước kẻ thù, mà chính là đầu hàng trước chiến tranh. Trước vũ khí và bom đạn, niềm tin hòa bình đã không thể chiến thắng.

Trường đoạn khi Suzu nói ra điều ấy, thật sự có nhiều chi tiết bao hàm trong đó đến nỗi không thể nào quên được. Cô gái vừa khóc vừa chạy lên đồi, những giọt nước mắt của cô rơi xuống thấm vào mảnh đất quê hương, trong một cảm giác bất lực đến đau đớn. Nhưng rồi cô nhìn thấy, bên cạnh mảnh bom mọc lên một bông hoa mướp vàng. Dường như cuộc sống vẫn đang tiếp tục sinh sôi theo cách nào đó, không vì bom đạn và bạo lực mà chết đi, mà biến mất. Chúng ta vẫn sống tiếp, và tạo ra những hạnh phúc mới, vượt qua bom đạn, vượt qua chiến tranh. Có lẽ đó mới là chiến thắng thật sự của hòa bình.

Đến đây, một niềm tin mới được khai sinh: Niềm tin vào hòa bình và hạnh phúc. Cô gái nhỏ Suzu nhận ra và chân trọng điều ấy. Cô lại bắt đầu xây dựng cuộc sống nhỏ bé của mình với những niềm hạnh phúc giản đơn vượt lên nghịch cảnh.

Tôi đã cảm thấy thật sự xúc động vô cùng. Không giống như thể tôi xúc động vì những mất mát mà họ phải trải qua hay những đau thương mà họ phải hứng chịu, đó đơn giản chỉ là niềm cảm thông. Mà tôi thật sự khâm phục ý chí của họ, khi mà trong hoàn cảnh như vậy, vẫn luôn hướng về hạnh phúc.

Tôi đã rơi nước mắt khi đứa trẻ bị bỏ rơi được Shosaku cõng trên lưng và ba người cùng đi về nhà. Vừa đi trong ánh sáng rực rỡ của những ngọn đèn, dưới bầu trời đêm rộng lớn, anh vừa chỉ cho cô bé ngôi nhà của họ. Một gia đình nhỏ lại bắt đầu cuộc sống giản đơn hạnh phúc, cho dù điều gì sẽ xảy ra đi chăng nữa.

Toàn bộ những thước phim ấy dù vô cùng bình dị, lại là một thông điệp hòa bình và phản đối chiến tranh sâu sắc nhất. Chỉ từ những điều thật sự nhỏ bé, nó khiến ta bỗng nhiên thấy yêu thêm cuộc sống này, và yêu nền hòa bình mà ta được hưởng. Tôi không sống qua chiến tranh, nhưng đất nước tôi cũng chịu nhiều đau thương vì chiến tranh bom đạn. Vì thế tôi trân trọng từng khoảnh khắc bình yên tôi được sống. Suy cho cùng, hạnh phúc là do chính tay ta tạo ra, nó chỉ xuất hiện khi ta có niềm tin và có tình yêu với cuộc đời.

Kết thúc bộ phim rồi mà tôi vẫn còn thấy bần thần mãi. Nó  giống như là ăn một viên kẹo bạc hà vậy. thoạt tiên vừa ngậm thì ngọt miệng. Một lát sau hương xông lên cay xè cả mũi miệng, vị đắng thoang thoảng trên lưỡi, rồi đến một lúc nào đó hơi mát xộc lên khiến ta chỉ còn cảm thấy cơn đau tê tê trong mũi miệng. Nhưng đến khi tan hết, lại có vị ngọt ngào phảng phất nơi đầu lưỡi. Cảm xúc cũng trộn lẫn như vậy, không cần quá bạo liệt, quá đau thương hay bi lụy, tình cảm cứ từng chút từng chút len lỏi vào trái tim, ôm nhẹ rồi xiết lấy nó trong từng nhịp đập. Cho đến khi kết thúc, tôi chợt cảm thấy trái tim đã trĩu nặng những yêu thương trìu mến, như một dòng nước ấm ôm lấy nó và ban cho nó những cảm giác hạnh phúc nho nhỏ. Trong đầu tôi vẫn còn vương vấn mãi hình ảnh những con chuồn chuồn bay ngang, và những bông bồ công anh lướt đi theo cơn gió trên bầu trời xanh bao la hy vọng…

THẤT LẠC CÕI NGƯỜI : Tất cả rồi sẽ trôi qua

Tôi không hề giỏi, nếu không muốn nói là hoàn toàn không biết, cách nào để nhận xét về một tác phẩm  hoàn chỉnh một cách ngắn gọn mà lại đầy đủ cả. Thế nên , mượn ý từ bài luận của cô chủ hàng sách cũ Biblia, tôi muốn viết ra một cái gì đó như là cảm nhận trọn vẹn nhất của tôi về một cuốn sách đã để lại cho tôi những dư âm khó quên đến thế.

Về Thất lạc cõi người  của Dazai Osamu

Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này, tôi đã làm một việc không tưởng. Gấp sách lại và tự tát cho mình một cái thật đau. Tôi vừa đọc cái gì thế này ? Phải đến một lát sau tôi mới nhận ra đã đọc hết một lượt mấy trăm trang sách mà không hề dừng lại, và giờ đang cảm thấy một cảm giác bần thần quái lạ chạy khắp người. Cái cảm giác mà lâu lắm rồi tôi chưa được thấy lại.

Tôi mua cuốn sách này tại một nhà sách nhỏ trong trung tâm thương mại mà chưa hề biết nội dung nó là gì. Những tưởng nó sẽ là một câu chuyện lâm ly bi đát về cuộc sống lênh đênh đây đó của một con người lạc trôi giữa đời. Nhưng khi bắt đầu đọc nó, mới nhận ra là không chỉ có vậy.

Tôi biết chắc chắn sẽ có người đọc nó cho đến hết, cũng có người sẽ lắc đầu lè lưỡi mà bỏ dở giữa chừng, nhưng nguồn động lực thôi thúc tôi đọc không sót một chữ, lại chính là ở cảm giác muốn buông bỏ cuốn sách này. Như một nhà giải phẫu cầm trên tay bộ lòng tan nát nhưng không thể đừng được việc tiếp tục bới móc và nghiên cứu nó. Trong cảm giác chán ghét, tôi đã nghiền ngẫm nó cho đến chữ cuối cùng. Và rồi tôi nhận ra, như một cú đánh rất mạnh và đau, giáng thẳng vào tư tưởng, một cuốn sách đầy những đau khổ trầm uất lại mang tới một ánh sáng le lói soi tỏ phần nào thế giới quan đang mụ mị của tôi.

Thất lạc cõi người,  hay tên nguyên gốc là Nhân gian thất cách, tức là Không đủ tư cách làm người. Cả tiểu thuyết là 3 cuốn tự truyện của một chàng trai tên Yozo. Sinh ra trong một gia đình giàu có, điều kiện đầy đủ, nhưng ngay từ những năm tháng đầu đời, anh ta đã cảm thấy mình lạc lõng với cả thế gian. Và để che đậy cho tất cả những tư tưởng trầm uất và tự ti về bản thân, anh ta luôn sắm một cái mặt nạ hề để sẵn sàng chọc cười thiên hạ, mỉm cười với mọi việc để nó trôi đi một cách dễ dàng. Nhưng sự giả tạo ấy không tồn tại được mãi, khi bắt đầu dời gia đình để lên thành phố học đại học, anh ta bắt đầu bộc lộ khuynh hướng chán ghét con người, tự cho mình là “ngoài rìa xã hội” và lao vào đủ thứ tệ nạn, rượu chè, gái gú và làm việc phạm pháp để tự mua vui bản thân.

Nếu chỉ nhìn nhận một cách thông thường, hẳn đây là một kẻ không chỉ gian xảo và giả tạo, mà còn quậy phá, xuống cấp đến tận cùng. Một hạng đê tiện, hèn hạ chỉ biết nghĩ cho bản thân. Chắc hẳn nhiều người sẽ căm ghét anh ta lắm, nhưng biết gì không, anh ta cũng căm ghét chính mình còn hơn bất cứ điều gì.

Không chỉ kể lại chuỗi ngày đau khổ chất chồng dường như không có lối thoát của Yozo, cuốn tiểu thuyết còn là những băn khoăn day dứt không nguôi về sự nhận thức khác biệt so với “mọi người”, trăn trở về “nhân gian” và nguồn gốc của “tội lỗi”.

Chỉ duy nhất một lần, từ “hạnh phúc” được dùng hoàn toàn theo nghĩa đen, không hề mang ý mỉa mai hay châm biếm, là khi anh tìm thấy tình yêu thật sự đầu tiên của mình, lại chính là sự đồng cảm mạnh mẽ giữa hai người về “đau khổ và cô đơn”.

 “ Sáng hôm sau, mở bừng mắt tỉnh dậy, tôi lại trở thành tên hề khinh bạc thủa nào. Một kẻ yếu ớt sợ hãi ngay chính cả hạnh phúc. Tôi bị thương bởi lớp bông gòn. Hạnh phúc sẽ làm tôi bị tổn thương.”

Để rồi sau đó, cả hai cùng tìm đến cái chết. Nhưng số phận thật sự không buông tha con người này dễ dàng đến thế, anh ta không chết được, trong khi người con gái kia thì đã mãi mãi ra đi.

Sau một cú sốc lớn, anh ta quay trở lại với cái vòng luẩn quẩn, nát rượu, chơi bời không biết ngày mai, tự hủy hoại bản thân, vùng vẫy trong vũng bùn không lối thoát. Mỗi con người liên quan đến cuộc đời anh ta, dường như chỉ mang lại cho anh ta thêm đau khổ. Họ không hiểu được Yozo, cũng như anh ta không tài nào hiểu được họ, thế nên từ sợ hãi con người, Yozo đâm ra càng ngày càng chán ghét thế gian, chán ghét cùng cực cả bản thân mình.

Rõ ràng, Yozo là một người có đầy đủ nhận thức, thậm chí, còn quá đa cảm về bản thân, và quá quan tâm đến ánh nhìn của mọi người với mình. Nên anh ta sợ hãi việc làm trái ý họ, ngay cả khi hoàn toàn không hiểu hoặc hoàn toàn không muốn. Trong bế tắc cùng cực giữa thỏa hiệp với tư tưởng chung của xã hội và bản ngã cá nhân, trước miệng lưỡi và ánh nhìn của thế gian, Yozo đã tìm đến rượu như một cách để quên đi tất cả.

“Thế gian cụ thể là gì đây? Là số nhiều của con người chăng? Cái thực thể của thế gian nằm ở đâu kia chứ? Cho đến bây giờ tôi sống mà cứ nghĩ thế gian toàn là một cái gì cường liệt, khắc nghiệt và vô cùng đáng sợ. Khi nghe Horiki nói câu ấy, bất chợt tôi buột miệng :

Thế gian chẳng phải là cậu hay sao kia chứ?”

Không điều gì trong cuộc sống khiến con người này cảm thấy khá hơn. Hạnh phúc gia đình, sự quan tâm chăm sóc, sự ổn định, hay cả sự trong trắng đến ngây thơ mà anh ta cảm giác sẽ cứu rỗi được mình, lại quay ra trở thành những mũi dao sắc nhọn gây ra vết thương không thể lành trong tâm trí. Ở với người phụ nữ góa chồng, nhưng rồi nhận ra đứa con gái chỉ mong người cha thật sự của nó trở về. Lấy một cô gái trong sáng và không vướng bụi trần, tưởng như là một sự xoa dịu cho cuộc đời, thì lại phải chứng kiến vợ bị làm nhục. Tự tử nhiều lần nhưng không thành công, tỉnh dậy trong cảm giác trống rỗng vô vị. Như tấm gương đã vỡ vụn không thể nào chữa lành, tâm hồn con người này tan nát ra từng mảnh nhỏ và không còn bất cứ mong muốn níu giữ cuộc sống nào cả. Thứ giải thoát, chỉ còn có cái chết.

Nhiều lúc tôi từng nghĩ, lựa chọn cái chết là một lựa chọn thật hèn nhát. Sống tiếp mới khó, chứ chết đi thì ai và bất cứ lúc nào cũng có thể làm được. Con người này, sống đã thật sự hèn nhát, chỉ biết tự hủy hoại bản thân vì mâu thuẫn với nhân gian, nay năm lần bảy lượt đều mong chết đi để được giải thoát khỏi cái sai lầm cuộc đời do chính mình gây ra.

Nhưng sự thật có phải chỉ như thế, hay đơn giản cái chết chỉ là sự hợp thức hóa về mặt thể xác của một linh hồn vật vã giữa cuộc đời từ lâu đã không còn thật sự “sống”, mà chỉ đang tồn tại như một thây ma. Nếu vậy, cái chết cũng chẳng phải là điều gì là mới mẻ hay một sự giải thoát nào. Nó chỉ như liều thuốc giảm đau cuối cùng trước khi linh hồn thực sự tan biến đi.

Đến tận cùng của đau khổ, từ một kẻ thất bại, trở thành một phế nhân, rồi bị cho là một cuồng nhân, Yozo đầy chua chát nhận ra:

“Mất tư cách làm người

Tôi hoàn toàn không còn là một con người nữa”

Nguyên nhân của cả một cuộc đời bất hạnh ấy là gì? Anh ta cho rằng, chính mình là kẻ đã gây tất cả. Không có một dòng một chữ nào đổ lỗi cho người khác. Nhưng hằn sâu trong những suy nghĩ tiêu cực đến quái lạ, lại là sự lý giải căm ghét và đầy chua chát cho tất cả mọi hành động của anh ta, nhìn nhận kĩ ra, đều do tác động của cái gọi là “thế gian”. Bởi vì quá quan tâm đến thế gian nghĩ gì, quá sợ hãi sự lạc lõng của bản thân với mọi người mà không dám thể hiện con người thật sự với bất kì ai. Rồi chôn sâu những trầm uất và đau khổ của bản thân, dẫn đến tự hành hạ chính mình để làm giảm nhẹ nỗi thống khổ dày vò.

Một kẻ không đáng trách, mà đáng thương đến cùng cực, tự giết chết bản thân vì cái được coi là đức tính khiêm nhường và nhận phần sai về mình.

Khép lại cuốn tiểu thuyết, là những dòng khắc sâu đến rớm máu trong tâm trí người đọc:

“Tôi bây giờ không hạnh phúc cũng chẳng bất hạnh.

Tất cả rồi sẽ trôi qua

Cho đến bây giờ, trong cái địa ngục A tỳ gọi là thế giới “con người” mà tôi đã sống, thì đây là một điều duy nhất mà tôi nghĩ có vẻ là chân lý.

Đó chỉ là “Tất cả rồi sẽ trôi qua”

Tôi năm nay hai mươi bảy tuổi. Nhưng vì tóc bạc trắng đầu nên mọi người đều tưởng lầm là trên bốn mươi.”

Tôi không biết phải suy nghĩ logic hay đánh giá như thế nào nữa. Chỉ còn thấy dâng lên một cảm giác chua chát đến tận tâm can, một chút thương cảm, và nhen nhóm lên một thứ cảm xúc đáng ngạc nhiên sau khi đọc xong những dòng bi quan tột cùng ấy : chính là tình yêu cuộc sống đến vô cùng.

Như một sự đối chiếu với cuộc đời thực tế của bản thân, để nhận ra mình còn may mắn làm sao. Và tự dặn mình phải luôn kiên cường và dũng cảm, đó chính là cách để bảo vệ mình trước mọi ánh mắt thế gian.

Tản mạn “Mắt biếc” : khi nào mới thôi lấy nước mắt viết thơ tình…

Chỉ là vài dòng suy nghĩ và cảm xúc cá nhân dành cho Mắt biếc, dành cho Ngạn – nhân vật chính đầu tiên mà tôi không thích.

Cầm cuốn “Mắt biếc” lên từ khi trời còn rực nắng vàng. Ánh lên trong một buổi chiều xuân cái ấm áp và dễ chịu khi lặng thinh bên cửa sổ đọc sách một mình. Thế mà lại tật cũ, khi gấp sách lại bên ngoài đã tối đen. Mải lạc bước trong thế giới thực mà như hư ảo của “Mắt biếc”, chợt nhận ra đã lỡ hẹn với dáng chiều.

Nói về “Mắt biếc”, một câu nhận xét “hay”/”không hay” khó lòng mà thể hiện hết được.

Vừa tình vừa bi, cái sự lãng mạn mà bi lụy sầu giăng như một thứ mật ngọt đầy ám ảnh. Lại cũng như cơn nẫu ruột không dứt về thời thế đổi thay, con người thay đổi. Tình yêu, cả giữa nam nữ và cả giữa con người với xứ sở, thấm đẫm trong từng trang viết. Câu chuyện vừa lặng lẽ trong vắt như một dòng suối hoang nơi sơn cước, rồi có lúc lại vần lên dữ dội như cơn sóng dữ nơi thác ghềnh.

Khách quan mà nói “Mắt biếc” là câu chuyện tình yêu đẹp nao lòng. Yêu quê hương xứ sở, yêu tuổi thơ và những năm tháng hồn nhiên. Và hơn hết, là tình yêu thủy chung cho một người duy nhất. Dù bi thương, nó vẫn không che giấu được vẻ yêu kiều khiến vạn người mê đắm. Người ta hẳn là sẽ ngưỡng vọng mãi một kẻ si tình, sẽ trầm luân trong những câu chữ lãng mạn yêu thương cháy bỏng. Thảng hoặc có khi mơ mộng, lại hy vọng được tình cờ ngang qua mà chết chìm trong một đôi mắt biếc nào.

Nhưng về chủ quan, “Mắt biếc” còn để lại một tư vị rất khác. Ngoài những ngọt ngào dụ hoặc, những chìm đắm say mê cho những câu chữ đẹp như thơ, còn đọng lại một hương vị hơi có phần chua chát. Như một loại lật tẩy bản ngã, tôi nhiều khi cảm thấy chính bản thân như đang bị phơi bày.

Nếu chỉ đơn thuần là thưởng thức câu chuyện, hẳn sẽ vừa ngưỡng mộ lại vừa tiếc nuối mãi cho một chàng trai si tình như Ngạn, thương mãi cho một cuộc đời như Hà Lan, hay luyến tiếc mãi cho một cô gái trong vắt như Trà Long. Nhưng suy xét cho kĩ hơn, cái tình cảm trinh bạch không đổi ấy của Ngạn, nối tiếp là những câm lặng âm thầm, những nỗi đau tự mình ôm trọn hay những suy diễn quá nhạy cảm, lại là thứ đầy đọa cả anh và những người anh yêu.

Nói thẳng ra là Ngạn mù quáng, đầy tự tôn nhưng cũng đầy e sợ. Cả một đời anh trốn chạy, tự chôn giấu thứ tình cảm sùng bái như lý tưởng. Nhưng tới cuối cùng, lại vứt bỏ cả cuộc đời mình vì một nỗi sợ hãi từ quá khứ.

Tôi không thích nhân vật Ngạn, thẳng thắn mà nói là thế. Lý do không phải vì tôi ghét bỏ những thằng trai bi lụy. Trái lại, tôi thấy đồng cảm nhiều hơn. Vì cái cá tính yếu ớt và đa mang của Ngạn như là tấm gương thẳng thắn nhất soi tỏ từng góc con người tôi. Cuộc đời anh chẳng khác nào cái phản chiếu của chính tôi trong một hoàn cảnh đặc biệt hơn. Những gì Ngạn làm, những gì Ngạn nghĩ và những gì Ngạn nói, nếu bản thân tôi bớt một phần kiềm chế, hai phần dò xét, thì chính tôi cũng hành xử chẳng khác nào. Và tôi không thích như thế, không một chút nào, vì lối suy nghĩ ấy sẽ mang lại đau khổ cho những người tôi yêu quí, giống như cách Ngạn làm. Tôi không thích thú gì với bản thân mình, nên đâm ra tôi ghét lây cả Ngạn.

Nếu thẳng thắn hơn, ít đi một phần e ấp lo lắng, giảm đi một phần tự tôn, và nhiều thêm một phần đồng cảm, có lẽ cuộc đời sẽ khác. 

Ngạn yêu mọi thứ với tất cả gan ruột. Tình yêu của Ngạn là chuỗi ngày cháy rực của cảm xúc bên trong, của cái tôi mãnh liệt dập mãi không tàn. Từ tình yêu với quê hương, cho tới tình yêu hoài mong với Hà Lan, hẳn là anh yêu sâu sắc điều khiến anh hạnh phúc. Với quê hương, đó thật sự là một tình cảm đáng ngưỡng mộ. Nhưng với Hà Lan, đó lại là một sự cố chấp. Ngạn yêu Hà Lan nhưng dường như không hề cố hiểu cô muốn gì, tôn trọng “hạnh phúc” của người yêu đến độ sẵn sàng chôn vùi bản thân nhưng lại không nhận ra rằng : định nghĩa “hạnh phúc” của mỗi người cũng thật khác nhau. Hà Lan, có thật sự suy nghĩ về hạnh phúc như Ngạn? Cô cần gì ở anh? Gần 300 trang viết không làm cho điều này bớt mơ hồ đi.

Cứ thế tôi giận Ngạn, và như giận bản thân mình, vì quá vị kỉ, quá e dè mà không thể thẳng thắn với những người yêu thương. Chúng ta không ý thức được, không phải cứ bản thân mình gánh chịu đau khổ thì người khác sẽ không phải chịu đựng nữa. Đau khổ không bất biến, chúng sẽ càng sinh sôi vì sự thiếu hiểu biết lẫn nhau.

Tôi giận Ngạn, giận Ngạn yêu Hà Lan sai cách một, thì giận Ngạn từ bỏ Trà Long đến mười lần. Trà Long là một cô gái tốt, nên cô bé không đáng bị đối xử như thế. Tôi giận đến độ sẵn sàng tự viết thêm một chương năm chục trang nữa cho hai người đến được với nhau. Hành trình của Trà Long sẽ rất dài, và rất lâu, nhưng tôi tin là cô bé làm được. Với Ngạn, anh sẽ không tự thay đổi, nếu anh chưa thấy bản thân mình cần thay đổi.

Tuy nói là như thế, nhưng có những điều tôi không ghét bỏ cho được, ấy là sự tận tụy và chung thủy hiếm có của Ngạn. 

“Uống nhầm một ánh mắt mà say cả đời”

Cả cuộc đời Ngạn vất vả long đong, cũng chỉ vì một ngày xa xưa thơ bé bên cái giếng làng. Nào ai bảo được ánh mắt kia không nhìn thấy một cô gái bé nhỏ như đang trôi trong ánh trăng bạc. Ngạn từ lâu đã bị giam cầm rồi, giam trong ánh mắt trong biếc của một ai kia, khiến cả bầu trời của anh chỉ có người ấy. Thể xác có thể xa cách, đầu óc có thể phiêu lưu, nhưng tâm hồn và trái tim thì đã như thể bị cưỡng đoạt, rồi đốt rồi thiêu. Đã chẳng còn lại gì để tiếp tục yêu thương.

Tôi lại thấy Ngạn có đôi phần đáng thương quá. Anh có tự do được đâu, khi anh vẫn còn vui lòng tự khóa mình vào quá khứ. Nhớ quá nhiều thứ làm chậm bước trái tim. Kỉ niệm như con sư tử ẩn mình, sẵn sàng nhảy ra cắn chết những con nai tơ của tình yêu chớm nở. Ngạn cứ thế mà bất lực, chịu tổn thương nhiều nhất vì chính cái gọi là “chung thủy” mà mọi cô gái đều tôn thờ.

Nói đi nói lại, không muốn đi quá sâu vào tình tiết câu chuyện. Vì ai chưa đọc sẽ mất hứng, còn ai đọc rồi thì không cần phải nhắc lại, nhưng thật sự “Mắt biếc” là một câu chuyện đáng đọc. Như một bài thơ ẩn ý nồng đợm, câu chữ bay nhảy trong từng trang sách hẳn sẽ làm cho một ngày của bất cứ ai trở nên lãng mạn và ngọt ngào hơn. Giả thử mà thơ Xuân Diệu, thơ Hàn Mặc Tử viết diễn thành văn xuôi, có khi cũng chưa tình bằng những dòng văn của Nguyễn Nhật Ánh.

Du lịch Ninh Bình : lãng du sơn thủy trong sương

Chi tiết hành trình du xuân Tràng An – Tuyệt Tình Cốc trong 1 ngày

Đầu xuân, mình hăm hở đi Ninh Bình. Lần đầu du lịch tự túc từ đầu tới cuối, thật là một cảm giác khó quên đối với một đứa gà công nghiệp như mình. Lại thêm có tính hay lo, nên ngay cả khi đọc xong bảy bảy bốn chín thể loại kinh nghiệm du lịch Ninh Bình rồi, vẫn không tránh khỏi hình dung ra những thảm trạng du lịch phi thực tế.

Nhưng rồi nhắm mắt đưa chân, tâm trạng chẳng khác nào nhà quê đi tỉnh. Vì không có kinh nghiệm, nên mình luôn cố gắng chọn cách an toàn và nhanh gọn nhất, tính toán chi tiết để tránh phải đối mặt với tình huống phát sinh. Tuy cũng gặp phải một vài vấn đề nho nhỏ, nhưng nói chung đã có một chuyến du xuân đúng nghĩa, thoải mái và rất vui.

CHUẨN BỊ CHO HÀNH TRÌNH

Hẹn lên hẹn xuống, mãi mới thống nhất được ngày đi. Đứa nào cũng bận nên quyết định chỉ đi Ninh Bình một ngày.

Nếu chỉ muốn đi du xuân ngắm cảnh cho thư thái, mình nghiệm ra là không nên cố gắng đi quá nhiều địa điểm. Vì đến Ninh Bình không ngồi thuyền thì sẽ leo núi, với những tín đồ du lịch thì không sao, nhưng với mấy quí cô công sở thì vác xác lên mấy trăm bậc thang đã là cả một vấn đề. Ban đầu thống nhất đi Tràng An, Hang Múa, Tuyệt Tình Cốc và có thời gian thì ghé cố đô Hoa Lư. Nhưng đi được nửa buổi thì quyết định chỉ đi Tuyệt Tình Cốc, vừa đỡ mệt vừa kịp giờ về. Thành ra chuyến hành trình của bọn mình cực kì thảnh thơi, thừa thãi thời gian mà sống ảo và tận hưởng.

Nói về phương tiện đi lại, vì chẳng đứa nào có kinh nghiệm đi xe khách nên thống nhất là đặt vé trước cả đi và về. Khi đi mình đặt vé Limousine Tràng An trên vexere.com giá 350k/người, được chọn vị trí ghế ngồi. Phải nói là cực hài lòng, cả về xe và về trang đặt vé, nếu có đi lần sau mình cũng cân nhắc đặt vé trước cho tiện. 

Đường về mình đi tàu, cũng mua vé online qua trang của đường sắt Việt Nam (dsvn.com). Mọi thứ đều ổn, trừ duy nhất một việc: mình chọn khoang ghế cứng. Chưa đi tàu ghế cứng lần nào, nên thỉnh thoảng cũng ngây thơ nghĩ về đoàn tàu thật là cổ tích. Tuy cũng đã cân nhắc đến thực tế khó đạt kì vọng của đường sắt nước nhà, nhưng mình vẫn lạc quan cho rằng nó có thể là một trải nghiệm thú vị. Thực tế là mình đã NHẦM, nhầm ghê gớm, nhưng phải mãi tới cuối cuộc hành trình mới nhận ra thì đã muộn. Coi như rút kinh nghiệm lần sau.  

LÊN ĐƯỜNG

Hôm mình đi Hà Nội có không khí lạnh về, mưa phùn gió bấc thổi không khác nào đầu mùa đông. Buổi sáng dậy sớm từ lúc còn tối trời, mưa lạnh ẩm ướt. Tuy lo Ninh Bình trời cũng mưa, nhưng quyết đi thì vẫn cứ đi.

Trước khi tới điểm đón ở Phố Vọng, nhà xe gọi điện báo trước cho mình tận 15 phút. Tuy thoải mái thời gian để chuẩn bị nhưng vẫn nên đến điểm hẹn sớm cho thong thả.

Quãng đường Hà Nội – Ninh Bình chỉ khoảng 100 km, đi theo đường cao tốc mất khoảng 1 tiếng rưỡi. Cảm giác như vừa chùm chăn chợp mắt một lát, khi mở mắt ra là đã tới nơi rồi. Xe đưa bọn mình tới tận bến đò Tràng An, xuống tới nơi thì trời se se và mưa phùn nhỏ.

BUỔI SÁNG : DU THUYỀN Ở TRÀNG AN

Khu mua vé đối diện bến đò, nằm ở cuối dãy hàng quán bán đồ lưu niệm, lúc mình đến khá vắng người. Vé tham quan Tràng An là 200k/vé người lớn, tặng kèm một tờ hướng dẫn lộ trình. Tờ hướng dẫn này khá hữu ích trong việc theo sát hành trình ở Tràng An nên mình cảm thấy mừng vì đã không vứt đi ngay lúc ấy.

Mua vé xong thì băng qua đường rồi đi qua cầu là vào tới khu nhà chờ lên thuyền. Hẳn là phải cảm ơn ông trời cho mưa ngày hôm trước mà đi hôm ấy rất vắng, bọn mình cứ băng băng đi thẳng qua hàng dãy hàng dãy ngoằn ngoèo ô phân làn, rồi tự tin đi ra bến mà không hề phải chen chúc tí nào.

Thuyền chở được 6 khách, đủ người mới xuất bến. Cực may là bọn mình hẹn được luôn một đôi ngồi cùng xe, thế là xuống thuyền mà chẳng phải chờ đợi gì.

Vừa lên thuyền đã thấy thư thái, trời tạnh mưa, gió thổi nhẹ và không khí cực kì trong lành. Thuyền chỉ mới đi một vài phút, dường như mọi âm thanh náo nhiệt của người xe đã bị bỏ lại ở phía sau, chỉ còn tiếng mái chèo khua nước đều đặn. Trong khoảng 5 phút đầu, không ai nói câu nào, chỉ đắm mình vào tận hưởng một bầu không khí an nhiên vô cùng. Và cảnh núi non thì hẳn là không câu từ nào tả hết. Chính mình có mặt tại nơi ấy, trong chính khoảnh khắc ấy, đột nhiên cảm thấy có phải đã quá đỗi may mắn, khi bất chấp cả thời tiết mà đến được đây.

Tuy đã tạnh mưa, nhưng khí lạnh vẫn chưa tan, mây mù còn vấn vương trên đỉnh núi ngay cả khi trời hửng sáng rõ. Khung cảnh khi ấy chắc chắn không phần mềm chỉnh sửa ảnh nào làm được. Sắc trời sắc nước, đượm thêm cả hương khí của thiên nhiên có lẽ là một trải nghiệm mà mình sẽ không thể nào quên được.

Vừa đi vừa ngắm cảnh, chẳng mấy mà đến giao lộ giữa các tuyến tham quan. Có 3 tuyến đi thuyền Tràng An, mỗi tuyến mất khoảng 3 tiếng. Vì lũ bạn đều có nguyện vọng qua phim trường Kong nên mình chọn đi tuyến số 3. Thông tin và điểm đến cả 3 tuyến đều được ghi rõ trong tờ hướng dẫn nên rất tiện theo dõi.

Điểm đến đầu tiên là đền Trình. Nếu không quá đam mê lịch sử hay tín ngưỡng thì cũng nên dừng lại ở đây một chút để ngắm đàn cá chép bơi sát mép nước. Đàn cá rất đẹp và không quá lạ người nên nếu muốn có một bức hình sống ảo cả thuyền, cả cá thì đền Trình cũng là một địa điểm đẹp.

Ở lại đền Trình khoảng 10 phút thì xuống thuyền đi tiếp tới hang Đột (hang Đại) dài 1000m. Theo như cô lái thuyền thì đây là hang dài và đẹp nhất Tràng An. Trần hang khá thấp và có nhiều đoạn nhũ đá rủ xuống phải cúi đầu mới đi được, nên chú ý để không bị va đầu vào đá. Đi trong hang phải mất tới hơn 5 phút, cảm giác như đang dần thoát ly nhân gian, cứ đi mãi vào trong lòng núi. Hang khá tối, nhưng có một điểm trần cao và sáng đèn nên có thể chụp ảnh và quay phim được. Rất vui là cô lái thuyền cũng hỗ trợ tích cực cho công cuộc tự sướng của bọn mình bằng cách nhắc mình chuẩn bị sẵn tay máy khi tới đó. Kết quả là mình có được một đoạn clip đi thuyền trong hang rất rõ nét và xinh đẹp.

Ra đến cửa hang sẽ thấy rất rõ ràng cái cảm giác “từ trong hang đá đi ra”. Như được trả về với thiên nhiên, với trời đất, tiếng chim hót cũng như trong hơn, và núi rừng cũng như xanh hơn. Cây cối hai bên bên bờ sông rất rậm rạp, nhiều nhất là cây sậy cao quá đầu người, trên ngọn có bông trắng bay phất phơ theo gió. Thỉnh thoảng một con le le lông nâu cổ trắng lại kiêu kì và diễm lệ rẽ nước trước mui thuyền, rồi đột nhiên lặn rụp một cái mất tăm. Thật sự là một không gian thanh lọc cơ thể và tâm trí.

Đi tiếp là tới hang Vân (hang Mây). Hang này ngắn và cao hơn hang Đột khá nhiều. Nếu để ý một chút thì thấy cách các khối đá xếp lên nhau khá vuông vức và đều đặn, cứ như thể do con người tạo ra. Mình đi tuyến này không qua những hang nổi tiếng như hang Nấu Rượu, nhưng bù lại cảm giác như đi thám hiểm cũng rất thú vị.

Điểm dừng tiếp theo là đền Suối Tiên. Đền có khuôn viên rộng và một cây cầu đá có cảnh nền khá đẹp để lên hình. Trong đền có hai pho tượng mạ vàng rất to của đại vương và phu nhân, thần thái đẹp và uy nghi. Ngoài đền có hai lối đi dài 2 bên trồng toàn đào tiên xanh tươi sai trĩu quả, phía dưới là bạt ngàn một loại cỏ nào đó mà mình không biết tên nhưng xanh non đẫm sương.

Từ đền Suối Tiên, thuyền đi tiếp qua khe núi Địa Linh, tới hành cung Vũ Lâm. Tuy tuyến 3 chỉ bao gồm đi ngang qua hành cung rồi tới phim trường Kong ngay, nhưng vì hai chỗ này chung một bến thuyền nên vẫn tranh thủ tạt ngang vào thăm quan được một chút.  Trước mặt hành cung có một cái đình giữa sông, hẳn đã rất nổi tiếng trong các thước phim về Tràng An, chị lái thuyền gọi là tháp chuông nhưng mình cảm thấy nó giống cái thủy đình hóng gió.

Một điều khá thú vị nữa là khi đứng ở bến thuyền hành cung nhìn ra sẽ thấy dãy núi trước mặt trông giống như con chim đang dang cánh bay lên. Đầu chim là đỉnh núi chính giữa, hai bên có hai dãy núi dài như hai cánh sải ra thật rộng, người dân gọi là núi Đại Bàng. Tự đứng trên bến mà huyễn hoặc, có lẽ ngày xưa vua đi vi hành cũng nhìn ra thế núi ấy nên mới đặt hành cung chốn này.

Từ bến thuyền hành cung Vũ Lâm, đi bộ sang phải là tới con đường dẫn đến phim trường Kong. Chỗ này được gia cố thêm từ bối cảnh của bộ phim Kong: skull island, còn nguyên cái cầu gỗ và xác máy bay được chế thành tàu. Tuy nhiên chỉ được đi qua chứ không được vào buồng lái. Hồ nước đầy rêu và bèo cũng là địa điểm lý tưởng để có những bức hình xóa phông. Mà nói chung trời nước Tràng An chỗ nào chụp chân dung cũng đẹp.

Địa điểm tiếp theo trong phim trường là làng thổ dân. Hôm mình đi trời vừa mưa xong làm nền đất sét khá trơn. Ở đây có một số lều nhỏ, nếu muốn chụp ảnh với dân địa phương hóa trang thành thổ dân thì cần chuẩn bị tiền, còn lại thì thoải mái tạo dáng ở những lều không có người. Thường chị lái thuyền chỉ hẹn lên phim trường trong khoảng 30 phút, nhiều nhất là 1 tiếng rồi tập trung tại thuyền để trở về bến nên cần chú ý phân bổ thời gian để check-in mọi góc phim trường.

ĂN TRƯA Ở NINH BÌNH: ĐẶC SẢN DÊ NÚI

Vốn là bọn mình cũng chưa có ý định ăn gì cho bữa trưa, nên đã hỏi chị lái thuyền chỗ nào ăn ngon ở Ninh Bình. Chị liệt kê cho 3 nhà hàng, mà đến giờ mình chỉ nhớ được một cái tên là Ba Cửa, vì mình đặt cho nó cái tên mĩ miều là “Tam Môn Đại Tửu lầu”. Bọn mình quyết định đi ăn ở đấy luôn.

Lên bến thuyền, mình gọi taxi đi Ba Cửa. Đường đi cũng không xa, chỉ khoảng 10 phút đi ô tô, nhưng theo tư vấn của anh tài xế, cả bọn lại ghé vào một nhà hàng ở mặt đường (ngay ngã rẽ vào Ba Cửa).

Đặc sản Ninh Bình là dê núi và cơm cháy, thế nên bọn mình gọi thử cả hai, bốn món dê cùng cơm cháy chấm sốt dê. Hẳn là do đói meo sau một buổi sáng thăm thú, mình ăn món nào cũng thấy ngon. Đặc biệt đùi dê non hầm cực mềm và ngọt thịt, cơm cháy chấm sốt vừa giòn vừa xốp. Một bữa trưa no đủ với 200k mỗi người, thừa cơm cháy còn xin túi gói về.

Nói chung khá hài lòng với bữa trưa ở đây (hình như nhà hàng tên Mạnh Cường), phục vụ cũng nhanh nhẹn và nhà vệ sinh sạch sẽ. Chỉ có duy nhất một điều là ở đây bắt taxi rất khó.

Sau khi no say thì bọn mình quyết định đi tới Tuyệt Tình Cốc luôn thì rất khó bắt được taxi bên đường. Cũng vì mình khá chủ quan không tìm hiểu trước, nhưng không may là lên tới đây thì sim 4G Vinaphone của mình không có sóng. Đúng lúc ấy may quá có anh taxi Mai Linh trả khách, thế là cả bọn đi luôn. Lần sau rút kinh nghiệm sẽ gọi vào tổng đài taxi.

BUỔI CHIỀU: NGOẠN CẢNH TUYỆT TÌNH CỐC

Tuyệt Tình Cốc cách chỗ ăn trưa chỉ hơn 1 km, nhưng với cái bụng no kềnh, không tiểu thư nào muốn cuốc bộ. Đi taxi mất chỉ 10k. Nếu đi thẳng từ Tràng An lên mất khoảng 40k tiền taxi.

Tuyệt Tình Cốc vốn không phải là tên chính thức, mà biển chỉ dẫn sẽ đề Động Am Tiên. Mua vé tại cửa 20k/người. Động này vốn nằm giữa núi non, mới được xây dựng lại và đưa vào khai thác gần đây. Đường vào là một đường hầm nhỏ xuyên qua núi. Đứng ở cửa động chụp ảnh tập thể rất đẹp, vì không gian vô cùng rộng lớn.

Khi bọn mình đến là lúc giữa trưa (ăn xong là đi luôn mà) nên rất vắng người. Chỉ có 4 đứa thích làm trò gì thì làm. Thậm chí còn thử hú thật dài rồi nghe tiếng vọng lại cực kì đã tai.

Đường hầm vào cốc chẳng khác nào đường đi xuyên thế giới, cảm giác rất ảo. Gió lùa sượt qua da và âm vang tiếng nói vọng lại nghe rõ mồn một. Và cái cảm giác bước vào một khoảng trời không một bóng người, giống như mình là người khám phá ra mảnh đất này thật sự kì diệu.

Hồ động Am Tiên uốn lượn như hình củ lạc, nước hồ xanh biếc màu ngọc chứ không hẳn xanh trong. Đàn cá trong hồ cũng rất thân thiện, sẵn sàng làm nhân vật phụ cho những pô ảnh thùy mị sống ảo. Thêm nữa là trong cốc nuôi rất nhiều mèo con, chủ quán nước nói là mèo dân nuôi. Con nào cũng trông cũng rất yêu, có em mun hơi kiêu, mình cứ chụp ảnh là lại chảnh mèo quay đi.

Nghịch nước chán chê rồi bọn mình lên động Am Tiên, có cầu thang đá đi lên ở ngay lên tay phải lối vào. Đi khoảng 200 bậc đá thôi mà có rất nhiều góc đẹp để lên hình. Tuy trời hơi âm u một chút vì nhiều mây, nhưng mình vẫn chọn được những góc chụp khá ưng ý giữa một vòm cây lá xanh non cực mát mắt.

Động Am Tiên nằm khoét sâu vào núi, trong động thờ phật và thần. Cuối động còn có một giếng nước rất trong, kè đá và sâu khoảng 2m. Đi vào cho biết chứ thực ra trong động có cảm giác cực kì u tịch và lạnh lẽo.

Bên trái động là chùa Am Tiên cổ còn bên phải mới là khoảng sân sống ảo trong truyền thuyết. Từ chỗ này có thể phóng mắt bao quát cả hồ nước và núi non trùng điệp bao quanh. Sau khi chụp hình đến mệt nhoài và cạn cả pin điện thoại, mình thảnh thơi dành ra vài phút để cảm nhận không khí nơi này.

Tới rồi mới nhận ra, sự tĩnh mịch ở Tuyệt Tình Cốc không giống như ở Tràng An. Nó trầm mặc và đặc quánh lại, như thể thời gian trong này trôi đi cực chậm. Nếu có cơ hội, ngoài việc chụp ảnh tung trời đất, hãy ngồi lại bên bờ hồ và đọc về truyền thuyết động Am Tiên. Bạn trẻ hẳn sẽ có thêm cái nhìn khác về nơi này. Lịch sử của hơn một ngàn năm trước đã ngưng đọng ở đây, tạo cho nó một bầu không khí cực đặc biệt. Chỉ khi dừng chân một mình mới có thể cảm nhận hết cái u lãnh và tịch liêu, nhưng vô cùng thanh tẩy của một nơi thâm sơn cùng cốc thế này.

Nói cũng chỉ để biết thêm, còn Tuyệt Tình Cốc vẫn là một nơi cực thơ mộng để chụp ảnh, nhất là ảnh cưới. Thuê thuyền chụp ảnh trên hồ mất 200k nên thường chỉ có các đôi đi chụp ảnh cưới mới ra đến giữa hồ. Bọn mình chỉ đi một vòng quanh hồ và thấy 2 địa điểm chụp ảnh. Một chỗ là vòng hoa hình trái tim ngay bờ hồ được lên hình khá nhiều, và một chỗ có vẻ kín đáo hơn, nhưng đẹp tuyệt vời. Đó là tảng đá to nằm trong hồ cách bờ sông khoảng một bước chân, nhảy ra rất dễ dàng. Chỗ này có tầm nhìn toàn cảnh cực đẹp, như ôm được cả hồ, cả núi, cả chùa vào trong ánh mắt. Mình ngồi ở đó một lúc mà không muốn đi, cảm giác quá đỗi tiêu diêu tự tại. Nhắm mắt lại là cảm thấy mình như đệ tử sắp xuất sơn, không nỡ xa rời rừng xưa núi cũ.

Đối diện với động Am Tiên qua hồ nước là một cổng thành đá hai tầng mới xây phỏng theo kiến trúc cổ. Từ đây cũng có tầm nhìn khá đẹp xuống mặt hồ phía dưới.

Hồ động Am Tiên nhìn từ cổng đá

Đi hết một vòng hồ thì bọn mình đi taxi ra ga Ninh Bình về Hà Nội. Tổng thời gian ở Tuyệt Tình Cốc là khoảng 4 tiếng, thong dong thư thả tản bộ ven hồ. Đứa nào cũng thấy cực kì thoải mái.

TẠM BIỆT NINH BÌNH

Từ Tuyệt Tình Cốc tới ga Ninh Bình khoảng 13 km, mất 150k tiền taxi và anh tài thì cực kì vui tính. Đến ga anh còn chỉ đường cho vào đến tận cửa.

Lấy vé ở sảnh chờ, rồi ra ga chờ tàu đến cũng là một trải nghiệm lần đầu của mình. Cảm giác được lên tàu khá là háo hức, nhưng kỉ niệm đi ghế cứng là hạt sạn duy nhất trong toàn bộ cuộc hành trình khá thành công của bọn mình.

Tại vì đi cả ngày rất mệt, mà toa tàu thì chật và ồn nên không ngủ được mấy. Mình gần như trông mong từng phút về đến ga Hà Nội. Kinh nghiệm là lần sau sẽ chọn ghế mềm, hoặc lại đi xe limousine cho trọn vẹn.

TỔNG KẾT

Nói chung chuyến du xuân của mình thành công khá mĩ mãn, thời gian ở Ninh Bình rất đáng giá. Nếu đi để cảm thấy thư thái, Ninh Bình chính là nơi dành cho bạn. Nếu đi để lưu lại kỉ niệm đẹp, cũng nên đến Ninh Bình. Chuyến đi này không phải đi vội cho hết, mà đi chậm để cảm nhận và để hít thở thong dong. Ninh Bình là nơi vô cùng thích hợp để trút bỏ bớt những căng thẳng và lo toan thành thị, về lại để được ôm ấp trong vòng tay của thiên nhiên, của sông núi nước nhà.

Ninh Bình, 16.03.2019

Ảnh: Tất cả ảnh trong bài đều do mình tự chụp từ chuyến đi.

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu