The Pianist (2002) – Nhạc Chopin và những phím đàn đau đáu nỗi niềm Ba Lan

The Pianist (Nghệ sĩ dương cầm) là một bộ phim của đạo diễn Roman Polanski và diễn viên chính Adrien Brody. Bộ phim được công chiếu năm 2002 và ngay lập tức tạo được tiếng vang lớn và đạt nhiều thành tựu nổi bật. Bộ phim về đề tài chiến tranh thế giới II này đã giành được 3 giải Oscar và hàng loạt giải thưởng danh giá khác. 

The Pianist dựa trên cuốn hồi kí cùng tên của nghệ sĩ dương cầm Do Thái mang hai quốc tịch Ba Lan – Pháp, Władysław Szpilman. Nội dung kể về về hành trình sống sót qua Thế chiến thứ hai đầy đau thương mất mát của Szpilman. Dưới bàn tay của Roman Polanski và những trải nghiệm thực tế của chính ông, hơi thở chiến tranh trong The Pianist được phản ánh cực kì chân thực và cảm xúc. Thêm vào đó, diễn xuất tuyệt vời của Adrien Brody trong vai nghệ sĩ Szpilman đã mang lại linh hồn cho cả bộ phim, đưa đến một góc nhìn đầy thương cảm về những tội ác chiến tranh. 

Về nội dung, The Pianist đi theo cốt truyện đơn tuyến dưới góc nhìn của nhân vật chính, nghệ sĩ dương cầm Szpilman. Bộ phim chỉ xoay quanh những trải nghiệm về cuộc Thế chiến của riêng anh, từ khi phải chịu đựng nỗi đau mất mát cho tới những tháng ngày kham khổ chạy trốn chiến tranh. Không hào hùng tinh thần chiến đấu, không rực rỡ ý chí quyết tử, The Pianist trái lại chỉ đơn thuần là một cuộc chạy trốn. Một cuộc trốn chạy vì sinh tồn của một người bình thường, không có khả năng chiến đấu trước những tàn khốc của bom đạn và giết chóc. Theo chân Szpilman trải qua đầy đủ những mốc lịch sử của Thế chiến II, nỗi ám ảnh chiến tranh trở nên chân thật và trực quan đến lạnh lùng. 


Tuy nhiên, chất thơ của The Pianist lại đến từ nguồn cảm hứng vĩnh cửu của nhân loại : đó chính là âm nhạc. Vốn là một nghệ sĩ Piano, Szpilman có mối liên hệ đặc biệt sâu sắc với âm nhạc. Chính nhờ điều này, Roman Polanski đã có một cơ hội tuyệt vời để kết nối và bổ sung thêm một tầng ý nghĩa ẩn giấu đầy sâu sắc và không kém phần lãng mạn cho bộ phim. Xuyên suốt hơn 2 giờ 30 phút phim, âm nhạc tưởng chừng như đã chết, lại trỗi dậy đầy da diết và mạnh mẽ. Ẩn sau những bản nhạc ấy chính là linh hồn và tình yêu vô bờ với đất nước Ba Lan nhỏ bé mà kiên cường. Như một thông điệp phản chiến mạnh mẽ nhất, nỗi niềm Ba Lan trào dâng giữa các phím đàn, tinh thần yêu nước và yêu hòa bình gửi gắm ngay trong từng nốt nhạc. 

Bài viết này sẽ không xoáy sâu vào những thước phim trần trụi hiện thực đến đau lòng về tội ác diệt chủng của Phát xít Đức với nhân dân Do Thái mà sẽ đi tới với âm nhạc. Lắng nghe thật sâu những giai điệu phát ra từ từng phím đàn, để tìm thấy nét thơ và tình yêu Ba Lan vô bờ đang còn ẩn giấu trong đó. 

Không cần là tín đồ của nhạc cổ điển để có thể biết đến cái tên Frédéric Chopin (Sô-panh). Một nhà soạn nhạc thiên tài người Ba Lan nổi tiếng với những bản đàn tinh tế và đầy thổn thức. Linh hồn âm nhạc của The Pianist chính là Chopin. Âm nhạc của Chopin chính là niềm tự hào dân tộc của người Ba Lan, một thứ âm nhạc nặng tình với quê hương xứ sở. 

Dành cho mở đầu và kết thúc : Nocturne No.20 in C-Sharp Minor Op. post 

Ngay mở đầu của The Pianist, những thước phim đen trắng về thủ đô Warsaw trên nền nhạc độc tấu piano đã mang lại cảm giác da diết khôn nguôi. Đó chính là bản Dạ khúc số 20 cung Đô thăng thứ (Nocturne No.20 in C-Sharp Minor Op. post) của Chopin. 

Nói về bản nhạc, Dạ khúc số 20 được Chopin viết trước khi rời khỏi Ba Lan. Chopin, với tấm lòng yêu nước vô bờ đã viết nên một bản đàn mà sau này được gọi là Dạ khúc xa xứ, mang theo nỗi buồn không đành biệt ly của một người con phải rời khỏi quê hương. Ông không hề biết rằng ngay sau đó đất nước thân yêu sẽ rơi vào chiến tranh và ông sẽ mãi mãi không bao giờ quay lại quê hương lần nữa. Phủ trùm lên bản nhạc là nỗi u buồn sầu não, càng về sau càng trở nên thổn thức, đầy day dứt, lại cũng đầy yêu thương. 

Trong The Pianist, việc lựa chọn Nocturne số 20 làm nhạc mở đầu giống như một lời khẳng định tấm lòng yêu nước, cũng lại là một lời dự báo cho những lầm than đau khổ đất nước phải gánh chịu do chiến tranh. Đồng thời, việc Szpilman đắm chìm trong giai điệu ấy đến nỗi ngay cả khi bom nổ cũng không muốn để bản nhạc đứt quãng chính là minh chứng tuyệt đẹp cho tình yêu âm nhạc, cũng như tình yêu không sợ hãi dành cho quê hương.

Đối lập với điều đó, khi vang lên ở cuối phim, nối tiếp những nốt còn dang dở từ phần đầu, Dạ khúc số 20 lại như thổn thức bao nỗi niềm xót thương của Spzilman. Cảnh anh xúc động hoàn thành bản đàn trong chính đài phát thanh Warsaw không chỉ thể hiện niềm hạnh phúc khi có lại hòa bình, mà còn hàm chứa nỗi chua xót khi đã phải đánh đổi quá nhiều để đi đến ngày hôm nay. Chiến tranh đã ở phía sau, nhưng những gì bị cướp đi chẳng thể nào lấy lại được. Bản nhạc vang lên vừa dịu dàng như tình yêu hòa bình, vừa man mác buồn thương những nỗi nhớ, nỗi đau không thể nào quên. 

Khúc nhạc trong câm lặng :  Grande Polonaise brillante Op. 22

Sau bản độc tấu piano tuyệt vời ở đầu phim, phân nửa thời lượng phim sau đó không xuất hiện thêm bản nhạc nào nữa. Hơn một tiếng đồng hồ phim tập trung lột tả những tội ác khủng khiếp của Phát xít Đức với nhân dân Ba Lan và dân tộc Do Thái. Những thước phim đau đớn đến câm lặng hay những cái chết phơi bày trên mọi con đường gây ra một bầu không khí vô cùng áp lực và ngột ngạt. Suốt chừng ấy thời gian, Szpilman không hề đánh đàn một lần nào, âm nhạc tưởng như đã bị chiến tranh dìm chết. 

Nhưng vào giai đoạn căng thẳng nhất của phim, âm nhạc lại xuất hiện như một vị cứu tinh kì diệu. Cảnh đánh đàn lần này mang dụng ý nghệ thuật rất rõ ràng, cùng với lối thể hiện tươi mới đã trở thành điểm sáng vào khoảng giữa bộ phim. Đó chính là cảnh Szpilman đánh đàn piano trong không khí. 

Trong bối cảnh đang ẩn náu và chạy trốn, Szpilman không được phép gây ra bất kì tiếng động nào. Nên ngay cả khi chiếc Piano ở trước mặt, anh cũng chỉ có thể tự hình dung ra việc được nhẹ lướt trên phím đàn. Bản nhạc anh tưởng tượng ra chính là phần mở đầu của Grande Polonaise brillante Op. 22, một tác phẩm của Chopin viết cho dàn nhạc. Bản đầy đủ cũng được sử dụng làm nhạc chạy credit ở cuối phim. 

Một nhạc phẩm có âm điệu nhẹ nhàng và tươi tắn. Những nốt cất lên đầy trong sáng và bay bổng. Giai điệu vui tươi vang lên cũng là lúc Szpilman mỉm cười đầy nhẹ nhõm sau cả một quãng thời gian trốn chạy nghẹt thở. 

Đây là một tác phẩm thuộc thể loại Polonaise, dòng nhạc được lấy cảm hứng từ điệu Polonaise của âm nhạc dân gian Ba Lan. Có thể nói bản Polonaise là tác phẩm mang đậm tính Ba Lan nhất, thể hiện sâu sắc và rõ ràng nhất linh hồn Ba Lan. Với Chopin, Polonaise còn mang theo nỗi khắc khoải hoài thương quê nhà.

Grande Polonaise brillante Op. 22 như gợi nhớ về âm điệu vui vẻ và lạc quan của những khúc nhạc Ba Lan xưa cũ đã ngấm vào trong máu thịt. Như lời nhắc nhở Szpilman về tinh thần Ba Lan vẫn luôn tồn tại bên cạnh anh.

Cách Szpilman muốn chơi Grande Polonaise brillante Op. 22 ngay cả trong hoàn cảnh vô cùng bất khả thi và nguy hiểm không chỉ là một hình ảnh đẹp mà còn phảng phất niềm tự tôn dân tộc. Dù bị kìm kẹp, âm nhạc vẫn sống mãi trong tâm trí con người, cùng với tinh thần Ba Lan vẫn tồn tại ngay cả khi rơi vào khó khăn nguy khốn. 

Ngay lúc ấy và những ngày trốn chạy về sau, điều giữ cho Szpilman cố gắng bám trụ với cuộc sống là gì ? Dù trải qua vô vàn khó khăn, cơ cực và nhiều lần đối diện với cái chết, động lực sống của anh đến từ đâu lại có thể mạnh mẽ đến vậy ? Tuy bộ phim không thật sự làm người xem thỏa mãn với một kiến giải đủ sức nặng, nhưng vẫn cho thấy sự quật cường của Szpilman đến từ lòng ham sống, và sự bầu bạn của âm nhạc. Ở mọi nơi, đôi tay anh vẫn lặng lẽ vẽ lên trong không trung những nốt nhạc, dường như để quên đi cái lạnh lẽo cơ cực phải trải qua từng ngày. 

Khúc nhạc định mệnh: Ballade No. 1 in G minor, Op.23

Có lẽ phân cảnh đắt giá nhất The Pianist chính là cảnh Szpilman chơi đàn cho vị sĩ quan Đức trong căn nhà bỏ hoang. Nhờ có sự xuất hiện của bản Ballade số 1 cung Sol thứ (Ballade No. 1 in G minor, Op.23), cảnh phim được đẩy lên đến cao trào mà không cần bất kì lời thoại nào, trở thành cảnh tạo ấn tượng sâu sắc nhất trong phim. 

Trong nguyên tác hồi ký của Szpilman, bản nhạc ông chơi cho vị sĩ quan Đức (Hosenfeld) chính là bản Dạ khúc số 20 của Chopin, đã được xuất hiện ở đầu phim. Tuy nhiên, trong The Pianist, Roman Polanski đã thể hiện sự sáng tạo của riêng mình khi lựa chọn Ballade số 1 cung Sol thứ để thay thế. Một sự thay đổi đã tỏ ra là đúng đắn, khi đã tạo ra sự kịch tính và ý nghĩa đặc biệt cho một cảnh phim then chốt. 

Vào một đêm ở căn biệt thự bỏ không, trước khi Szpilman bị phát hiện, anh đã nghe thấy tiếng piano vọng từ dưới nhà lên. Gần như khẳng định được người chơi đàn chính là Hosenfeld, với bản Sonata Ánh Trăng (Moonlight sonata) nổi tiếng của Beethoven. Để rồi chỉ một lát sau, âm nhạc tinh túy nhất của Chopin cũng được vang lên. Một sự đối ứng dễ nhận thấy với Beethoven là đại diện cho nhạc cổ điển nước Đức và Chopin đại diện cho Ba Lan.  

Bản Ballade số 1 cung Sol thứ được chơi trong The Pianist chỉ là một đoạn của bản nhạc gốc dài hơn 9 phút, nhưng lại là khúc đau thương và hùng tráng nhất. Một bắt đầu chậm rãi và man mác, rồi nỗi đau cứ mạnh dần lên, để rồi kết thúc bằng đau thương cuồng nộ, cũng lại phảng phất ý chí quật cường. 

Khác với cuốn hồi ky nguyên tác, việc chơi một bản Dạ khúc trong trường hợp này là rất hợp lý và nhiều cảm xúc, nhưng chơi chính bản Ballade số 1 này thậm chí còn mang theo dụng ý nghệ thuật đặc biệt hơn. Polanski đã chọn một bản nhạc đủ cao trào và đủ mạnh mẽ để đáp lời nhạc phẩm của Beethoven. Đồng thời thể hiện ý chí không chịu khuất phục trước nỗi đau và bạo lực chiến tranh, một tinh thần Ba Lan sáng chói qua bom đạn và diệt chủng. Chơi bản nhạc này trước mặt một sĩ quan Đức, Szpilman của Roman Polanski dường như đã chuẩn bị sẵn sàng để chết ngay sau đó. 

Điều này có lẽ đã làm cho vị sĩ quan Đức xúc động thật sự. Không phải chỉ vì một giai điệu tuyệt vời, mà còn vì tình cảm ái quốc theo cách rất riêng được gửi gắm trong đó. Người Đức hay người Ba Lan thì vẫn giống nhau ở tình yêu đất nước. 

Kết lại 

Trải qua muôn vàn đau thương, chịu ảnh hưởng nặng nề của tội ác chiến tranh, nhưng đất nước và con người Ba Lan vẫn không đánh mất linh hồn và tình yêu âm nhạc. Xin kết lại bằng một câu thoại những người Ba Lan ném vào quân Phát xít ngay khi gặp chúng bại trận: 

“Chúng mày lấy hết những gì tao có.

 Tao, một nhạc công. 

Chúng mày lấy cây violin của tao, lấy mất cả linh hồn tao” 

The Motorcycle Diaries (2004) – Thao thức những cung đường

Những bộ phim về hành trình liều lĩnh và hào sảng của tuổi trẻ luôn thật hấp dẫn. Chúng càng đặc biệt hơn khi không chỉ ghi lại những cung đường và những địa điểm đi qua, mà còn giúp con người ta nhận ra lý tưởng cuộc đời.

Dung dị và thuần phác như một cuốn nhật ký hành trình, “The Motorcycle Diaries” phác họa lại chuyến hành trình quanh Nam Mỹ đầy cảm xúc của hai chàng trai. Một người là nhà sinh học chuẩn bị bước sang tuổi 30, Alberto “Mial” Granado. Một người là cậu sinh viên y khoa năm cuối, Ernesto “Fuser” Guevara, người sau này sẽ trở thành lãnh tụ Che Guevara vĩ đại. Mỗi cung đường đi qua là những thao thức không ngừng của một thời trai trẻ.

Khởi đầu của cuộc hành trình

Bộ phim được thực hiện dựa theo 2 cuốn nhật ký đi đường của chính Che Guevara và Granado, từ khi hai người bắt đầu lên kế hoạch cho chuyến đi xuyên Nam Mỹ. Với lối dẫn chuyện kiểu tự thuật, cá tính và tâm lý của cả hai bắt đầu được bộc lộ:

“Thứ chúng tôi giống nhau: sự liều lĩnh, lòng đam mê và tình yêu với những con đường rộng mở” 

Ernesto Guevara sinh trưởng trong một gia đình trung lưu khá giả ở Argentina. Anh đang theo học bác sĩ năm cuối và chỉ còn vài tháng nữa là thi lấy bằng tốt nghiệp. Bị căn bệnh hen suyễn mắc phải từ khi còn nhỏ hành hạ làm anh trở nên kiên cường và rắn rỏi. Đồng thời Ernesto cũng là một người thành thật và ngay thẳng.

Alberto Granado lại là một nhà sinh học hơi tròn trịa có thái độ vô cùng yêu đời và lạc quan. Với con xe moto “The Mighty One”, anh muốn đi chinh phục Nam Mỹ để thỏa mãn một thời tuổi trẻ.

Trong cuộc đối thoại để lên kế hoạch cho chuyến đi tại một nhà hàng, Granado đã chỉ vào một ông béo ngủ gật để làm động lực cho “Fuser” tham gia vào cuộc hành trình. Cả hai người trẻ đều nhận ra chỉ có tuổi thanh xuân mới cho họ cơ hội đi để khám phá và trải nghiệm, nếu không khi về già sẽ chỉ là trì độn và hối tiếc.

Lên đường với khát khao tuổi trẻ

Hai người đàn ông, trên chiếc xe motor lỉnh kỉnh đồ đạc chuẩn bị đi phượt xuyên biên giới, giống như câu chuyện về Don Quijote và chiến mã Rocinante phiêu lưu khắp nơi để chiến đấu vì tự do. Hành trình của họ có thể là vô nghĩa với nhiều người, nhưng trong mắt họ, nó vô cùng quan trọng và lớn lao. Không khác nào cách Don Quijote tự hào về cuộc phiêu lưu của chính mình.

Hình ảnh chiếc xe moto độc hành trên con đường vắng vẻ càng làm nổi bật cái kiêu ngạo dũng cảm và đầy dấn thân của tuổi trẻ. Fuser thậm chí đã để lại người yêu để lên đường. Anh gặp lại cô lần cuối trước khi thật sự dấn thân về phía trước ngay cả khi chẳng có điều gì đảm bảo cô sẽ đợi được anh trở lại. Mang nặng nhiều cảm xúc trong lòng, anh vẫn lướt nhanh trên những con đường trải dài tới tận chân trời.

“Những gì con nhận được khi băng qua biên giới chính là mỗi khoảnh khắc như tách làm đôi: u sầu vì những gì đã bỏ lại phía sau và phấn khích khi tiến vào một vùng đất mới”

Trải qua muôn vàn khó khăn, bị hỏng xe, thời tiết khắc nghiệt, hết tiền phải đi ăn ngủ nhờ, những cãi vã vặt vãnh dọc đường hay những cơn hen kịch phát, hai người họ vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Mỗi con đường đi qua đều in dấu bánh xe, mỗi nơi dừng lại đều đem lại cho họ những trải nghiệm tuổi trẻ không thể nào quên. Nam Mỹ bình dị và đầy vui tươi được khắc họa trong từng câu hát, từng điệu nhảy samba vui nhộn. Đồng thời, những góc tối của sự nghèo đói và chia cắt cũng dần dần hiển hiện. 

Hành trình trường chinh hiện ra đầy phóng khoáng, mang cái chất lang bạt đầy tự do và liều lĩnh của thời trai trẻ trong từng thước phim bàng bạc và cả cái rung lắc đặc trưng trên từng cây số.

Cho tới khi đến Chile, cũng là khi Granado buộc phải bỏ lại chiếc xe moto yêu dấu với muôn vàn tiếc nuối, cuộc hành trình của cả hai cũng bước sang một chặng mới.

Điều ấn tượng là ngay cả khi không còn phương tiện nào để đi, hai người vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Có thể lúc này nó đã không còn là “Nhật ký xe máy” nữa, nhưng ngay cả đi bộ hay đi nhờ xe thì phải đi vẫn là phải đi. Khát khao đi tiếp được thể hiện một cách đầy chân thực trong chỉ một câu nói của Fuser khi nói chuyện với đôi vợ chồng ở mỏ đá.

“- Hai người đang tìm việc sao?
– Không, chúng tôi không tìm việc.
– Không phải sao? Vậy tại sao hai người lại đi ?
– Chúng tôi đi chỉ để đi thôi”

Đúng thế, với những tâm hồn yêu xê dịch, đi chính là chỉ để đi. Mọi lý do đều chỉ là phụ trợ cho niềm đam mê đơn giản độc nhất ấy. Nhiều khi ta chỉ lên đường không phải vì một điểm đến, mà chỉ là muốn được trải nghiệm một cuộc hành trình.

Đi, thấy, cảm nhận, thay đổi

Có lẽ mục đích cuộc hành trình của Fuser đã bắt đầu thay đổi từ khi bỏ lại chiếc xe máy tại Chile. Anh không còn chỉ đi vì cái thú chinh phục của tuổi trẻ, anh đi để thấy và để cảm nhận.

Những phân cảnh cuốc bộ qua sa mạc hoang vắng hay dừng chân tại khu mỏ không chỉ thể hiện cái ý chí du hành của hai con người ấy, mà dần phảng phất màu sắc của hiện thực xã hội. Sự nghèo đói và bất công trải dài trên khắp các cung đường Nam Mỹ.

Từ Argentina tới Chile rồi tới Peru, càng vào sâu trong dãy Andes, cuộc sống của tầng lớp nông dân nghèo Nam Mỹ càng thể hiện đậm nét. Thông qua những cuộc nói chuyện với dân bản địa và những thước phim theo kiểu ký sự, tình trạng nghèo đói và áp bức bất công của tầng lớp nông dân càng hiện lên chân thực. 

Những hình ảnh đen trắng với người nông dân nghèo đóng khung trong những cảnh tĩnh, cùng bản nhạc độc tấu réo rắt mà buồn thương của Gustavo Santaolalla là một điểm nhấn nghệ thuật vô cùng đặc sắc. 

Khi đứng tại Machu Picchu, kinh đô huy hoàng đã đi vào dĩ vãng của đế chế Inca vĩ đại, Fuser đã phần nào nhận ra bản chất của sự bất công và nghèo đói này.

“Người Inca hiểu biết về thiên văn, y học, toán học cũng như những thứ khác, nhưng những kẻ xâm lược Tây Ba Nha có vũ khí.
Châu Mỹ sẽ như thế nào nếu mọi chuyện khác đi. “

“ Một cuộc cách mạng mà không có vũ khí ư. Sẽ chẳng bao giờ được đâu, Mial”

Cũng chính tại Peru, trong thời gian tình nguyện tại một trại phong bên bờ sông Amazon, một lý tưởng lớn dần thức tỉnh trong lòng Fuser. Trại phong nằm ở hai bên bờ sông, một bên là dành cho người lành và một bên dành cho người bệnh đã trở thành hình ảnh trọng tâm trong toàn bộ phần sau của “The Motorcycle Diaries”, nó đại diện cho những chia cắt của các nước Nam Mỹ – Mỹ Latinh thời điểm đó. Bên cạnh khía cạnh thiếu hiểu biết về mặt y học về bệnh phong, bệnh vốn không lây nhiễm qua đường tiếp xúc, dẫn đến thái độ có phần kì thị cực đoan của một bộ phận người lành, còn có những lề lối không thể phá bỏ của tư duy tiểu nhược, tư duy địa phương nhỏ hẹp.

Đứng trước thực trạng như vậy, sự có mặt của hai chàng trai đã thổi một luồng gió mới vào cuộc sống nơi đây. Phá vỡ quy tắc cũ cùng với sự hiểu biết và tình yêu thương lớn lao, hai người, đặc biệt là Fuser đã mang tới sự đối xử công bằng và bình đẳng mà những người bệnh phong chưa từng biết tới.

Điều này suy rộng ra chính là tác động mạnh mẽ của sự đoàn kết các nước Nam Mỹ, dựa trên sự thống nhất về mặt dân tộc và văn hóa, có thể là liều thuốc cứu lấy một châu lục thoi thóp đang chết dần trong cơn bạo bệnh.

Sau bài phát biểu mừng sinh nhật mà phảng phất âm hưởng của một bài diễn văn yêu ước, Fuser đã không do dự mà tự bơi qua sông, vượt qua ranh giới vô hình được vạch ra ngăn cách 2 thế giới. Bất chấp sức mình nhỏ bé, bất chấp dòng nước hung dữ, anh quyết tâm dùng sức mình để phá vỡ ranh giới ngăn cách giữa người với người. Hành động này của chàng trai Fuser mang tính biểu tượng rất cao, đại diện cho lý tưởng tiên phong giải phóng và đoàn kết dân tộc mà Fuser, sau này là Che Guevara vẫn bền bỉ theo đuổi.

Lời kết

Có thể nói, chuyến hành trình xuyên Nam Mỹ đã góp phần thay đổi cái nhìn và con người của một chàng trai trẻ, hơn nữa còn gieo mầm cho những thắng lợi về sau của tự do, bình đẳng và bác ái trên mảnh đất Mỹ Latinh. Giá trị của nó là không thể nào đo đếm được, chính bởi vì hai từ: thay đổi.

Tầm nhìn của chúng tôi có quá hạn hẹp, quá định kiến hay quá khắc nghiệt không?
Liệu kết luận của chúng tôi có quá cứng nhắc?
Có thể lắm

(Nhưng) Việc lang thang quanh châu Mỹ đã thay đổi tôi “

Khi nhìn nhận dưới một góc độ bình thường hơn, không phải dưới cách đánh giá câu chuyện của một vĩ nhân, mà chỉ đơn thuần là hai người trẻ tuổi đi để khám phá thì “The Motorcycle Diaries” đã rất thành công khi mang lại trải nghiệm thưởng thức rất chân thực và nhiều ý nghĩa. Kết thúc bộ phim, những khung hình đen trắng nửa tĩnh đầy ám ảnh và âm điệu của bản độc tấu guitar ẩn chứa một nỗi hoài thương khó tả vẫn cứ ám ảnh mãi trong tâm trí người xem.

Ở một góc nhân gian : câu chuyện chiến tranh và bài ca về hạnh phúc

Nhắc đến những tác phẩm viết về thời kì chiến tranh, chúng ta thường nghĩ đến điều gì ? Những mất mát đau thương và chia ly? Sự anh dũng và lý tưởng? Hay là sự tàn khốc của cuộc chiến? Chắc chắn đó sẽ là những điều đầu tiên hiện ra trong đầu chúng ta. Chiến tranh dù nói theo cách nào, cũng luôn gây ra những cảm giác vô cùng tiêu cực và mạnh mẽ. Nhưng đi ngược lại những điều ấy, Kono sekai katatsumi ni lại là một câu chuyện về hạnh phúc vô cùng giản đơn, ngay chính trong thời gian loạn lạc của Chiến tranh thế giới thứ Hai.

Điều đầu tiên tôi cảm nhận về bộ phim này chính là cảm giác đơn giản đầy hạnh phúc.

Nhân vật chính Suzu, một cô gái tự nhận là ngốc nghếch, không giỏi điều gì ngoài làm rong biển và vẽ tranh, sinh ra và lớn lên trong chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc sống của cô, nhẹ nhàng trôi qua với những niềm vui nho nhỏ.

Đây đó trong cuộc sống, những dấu ấn chiến tranh dần đậm nét, nhưng những chi tiết ấy đều không được coi là to lớn, mà chỉ đơn giản như cuộc đời vốn phải như thế. Từ chuyện gia đình phải thắt lưng buộc bụng vì kinh tế khủng hoảng, đến chuyện khẩu phần ăn giảm dần do đất nước đang thiếu lương thực nghiêm trọng, Suzu đối mặt tất cả với một tư tưởng tự nhiên, không một câu oán thán, không một điều suy nghĩ. Cô chấp nhận hiện tại, và luôn vui vẻ sống yêu đời và hạnh phúc. Dường như với cô, chiến tranh vẫn còn là một thứ gì ở xa lắm, cô đã nghĩ “Mùa hè đã đến, dù cho có chiến tranh, ve vẫn kêu và bướm vẫn bay lượn”. Trong góc nhỏ của thế giới, những biến động khủng khiếp của thời đại bấy giờ vẫn chỉ là những gợn sóng lăn tăn đập vào chân cô gái trẻ vô tư. Cô luôn cho rằng mình là kẻ mơ mộng, và sống trong những giấc mơ kí ức khiến cô thấy hạnh phúc vô cùng.

Phải nói rằng, chính cuộc đời nhỏ bé ấy, khiến cho nửa đầu bộ phim trở nên vô cùng đáng yêu. Từ cách Suzu ngốc nghếch gặp ông ba bị, sống cùng với mẹ cha và anh chị em, đến khi đi lấy chồng xa, và cuộc sống làm dâu của cô ở một nơi đất khách quê người. Mọi thứ đều rất đỗi bình dị. Chỉ là những điều nho nhỏ như bữa cơm chiếc áo, nhưng lại khiến người ta cảm thấy được niềm hạnh phúc thật sự. Cuộc sống của Suzu, vượt lên những yếu tố thời đại, đến đây đều bình dị trôi qua như bao con người khác.

Rồi điều gì đến cũng phải đến, bước ngoặt thật sự thay đổi cuộc đời và suy nghĩ của Suzu chính là sự việc cô mất bàn tay phải, và mất đi cô cháu gái. Cô đã tỉnh dậy trong một cảm giác đau đớn, không chỉ về thể xác, mà còn là tâm hồn đã bị tước đi những mơ mộng và hạnh phúc. Bàn tay phải, bàn tay cô vẽ nên mọi thứ, bàn tay cô chạm vào những người yêu thương, bàn tay cô nắm lấy cô cháu gái nhỏ trước khi bom nổ, đã biến mất khỏi cõi đời như một giấc mơ bị tước đoạt. Cô gái tỉnh dậy khỏi giấc mộng hạnh phúc và buộc phải đối mặt với hiện thực trần trụi và đau đớn của chiến tranh.

Nhưng điều ấy không kéo dài được lâu, hạnh phúc nhỏ của cô gái trẻ cuối cùng cũng bị chiến tranh thử thách. Khi máy bay địch bắt đầu đánh bom Kure, Suzu không chỉ đối mặt với sống chết, mà còn phải đối mặt với chính sự lạc quan của mình. Chiến tranh mang đến tai họa, đến những ngôi nhà bị phá hủy, đến những con người ra đi không trở lại. Nhưng những điều ấy, với cuộc sống ngày một khó khăn, không dập tắt được tinh thần và nghị lực sống phi thường của người dân nơi đây. Ngay cả lúc này, Suzu chưa một lần thật sự nghĩ về chiến tranh và những đau thương của nó, cô đơn giản là chờ đợi những khó khăn này qua đi để trở về với cuộc sống hiện tại.

Vượt lên trên tất cả, cô quyết định phải sống mạnh mẽ như tất cả mọi người, và vượt qua cuộc chiến. Hình như trong sâu thẳm trái tim mình, cô vẫn đang mơ về một chiến thắng, rồi cuộc sống sẽ trở lại như nó vốn có, miễn là cố gắng qua được cơn ác mộng này. Sự kiện ở Hiroshima không giết chết được giấc mơ của cô, sự ra đi của gia đình và những người cô yêu quí, làm cô đau buồn nhưng không thể khiến cô suy sụp. Thế nhưng cuối cùng, lời tuyên bố đầu hàng đã chấm dứt tất cả. Cô không muốn tin vào điều đó và đã ước rằng “mình chỉ mong muốn được chết như một kẻ mơ mộng”.

Thực tế đã xảy ra, chúng ta đã đầu hàng trước bạo lực. Ở đây, có lẽ không phải là đầu hàng trước kẻ thù, mà chính là đầu hàng trước chiến tranh. Trước vũ khí và bom đạn, niềm tin hòa bình đã không thể chiến thắng.

Trường đoạn khi Suzu nói ra điều ấy, thật sự có nhiều chi tiết bao hàm trong đó đến nỗi không thể nào quên được. Cô gái vừa khóc vừa chạy lên đồi, những giọt nước mắt của cô rơi xuống thấm vào mảnh đất quê hương, trong một cảm giác bất lực đến đau đớn. Nhưng rồi cô nhìn thấy, bên cạnh mảnh bom mọc lên một bông hoa mướp vàng. Dường như cuộc sống vẫn đang tiếp tục sinh sôi theo cách nào đó, không vì bom đạn và bạo lực mà chết đi, mà biến mất. Chúng ta vẫn sống tiếp, và tạo ra những hạnh phúc mới, vượt qua bom đạn, vượt qua chiến tranh. Có lẽ đó mới là chiến thắng thật sự của hòa bình.

Đến đây, một niềm tin mới được khai sinh: Niềm tin vào hòa bình và hạnh phúc. Cô gái nhỏ Suzu nhận ra và chân trọng điều ấy. Cô lại bắt đầu xây dựng cuộc sống nhỏ bé của mình với những niềm hạnh phúc giản đơn vượt lên nghịch cảnh.

Tôi đã cảm thấy thật sự xúc động vô cùng. Không giống như thể tôi xúc động vì những mất mát mà họ phải trải qua hay những đau thương mà họ phải hứng chịu, đó đơn giản chỉ là niềm cảm thông. Mà tôi thật sự khâm phục ý chí của họ, khi mà trong hoàn cảnh như vậy, vẫn luôn hướng về hạnh phúc.

Tôi đã rơi nước mắt khi đứa trẻ bị bỏ rơi được Shosaku cõng trên lưng và ba người cùng đi về nhà. Vừa đi trong ánh sáng rực rỡ của những ngọn đèn, dưới bầu trời đêm rộng lớn, anh vừa chỉ cho cô bé ngôi nhà của họ. Một gia đình nhỏ lại bắt đầu cuộc sống giản đơn hạnh phúc, cho dù điều gì sẽ xảy ra đi chăng nữa.

Toàn bộ những thước phim ấy dù vô cùng bình dị, lại là một thông điệp hòa bình và phản đối chiến tranh sâu sắc nhất. Chỉ từ những điều thật sự nhỏ bé, nó khiến ta bỗng nhiên thấy yêu thêm cuộc sống này, và yêu nền hòa bình mà ta được hưởng. Tôi không sống qua chiến tranh, nhưng đất nước tôi cũng chịu nhiều đau thương vì chiến tranh bom đạn. Vì thế tôi trân trọng từng khoảnh khắc bình yên tôi được sống. Suy cho cùng, hạnh phúc là do chính tay ta tạo ra, nó chỉ xuất hiện khi ta có niềm tin và có tình yêu với cuộc đời.

Kết thúc bộ phim rồi mà tôi vẫn còn thấy bần thần mãi. Nó  giống như là ăn một viên kẹo bạc hà vậy. thoạt tiên vừa ngậm thì ngọt miệng. Một lát sau hương xông lên cay xè cả mũi miệng, vị đắng thoang thoảng trên lưỡi, rồi đến một lúc nào đó hơi mát xộc lên khiến ta chỉ còn cảm thấy cơn đau tê tê trong mũi miệng. Nhưng đến khi tan hết, lại có vị ngọt ngào phảng phất nơi đầu lưỡi. Cảm xúc cũng trộn lẫn như vậy, không cần quá bạo liệt, quá đau thương hay bi lụy, tình cảm cứ từng chút từng chút len lỏi vào trái tim, ôm nhẹ rồi xiết lấy nó trong từng nhịp đập. Cho đến khi kết thúc, tôi chợt cảm thấy trái tim đã trĩu nặng những yêu thương trìu mến, như một dòng nước ấm ôm lấy nó và ban cho nó những cảm giác hạnh phúc nho nhỏ. Trong đầu tôi vẫn còn vương vấn mãi hình ảnh những con chuồn chuồn bay ngang, và những bông bồ công anh lướt đi theo cơn gió trên bầu trời xanh bao la hy vọng…

THẤT LẠC CÕI NGƯỜI : Tất cả rồi sẽ trôi qua

Tôi không hề giỏi, nếu không muốn nói là hoàn toàn không biết, cách nào để nhận xét về một tác phẩm  hoàn chỉnh một cách ngắn gọn mà lại đầy đủ cả. Thế nên , mượn ý từ bài luận của cô chủ hàng sách cũ Biblia, tôi muốn viết ra một cái gì đó như là cảm nhận trọn vẹn nhất của tôi về một cuốn sách đã để lại cho tôi những dư âm khó quên đến thế.

Về Thất lạc cõi người  của Dazai Osamu

Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này, tôi đã làm một việc không tưởng. Gấp sách lại và tự tát cho mình một cái thật đau. Tôi vừa đọc cái gì thế này ? Phải đến một lát sau tôi mới nhận ra đã đọc hết một lượt mấy trăm trang sách mà không hề dừng lại, và giờ đang cảm thấy một cảm giác bần thần quái lạ chạy khắp người. Cái cảm giác mà lâu lắm rồi tôi chưa được thấy lại.

Tôi mua cuốn sách này tại một nhà sách nhỏ trong trung tâm thương mại mà chưa hề biết nội dung nó là gì. Những tưởng nó sẽ là một câu chuyện lâm ly bi đát về cuộc sống lênh đênh đây đó của một con người lạc trôi giữa đời. Nhưng khi bắt đầu đọc nó, mới nhận ra là không chỉ có vậy.

Tôi biết chắc chắn sẽ có người đọc nó cho đến hết, cũng có người sẽ lắc đầu lè lưỡi mà bỏ dở giữa chừng, nhưng nguồn động lực thôi thúc tôi đọc không sót một chữ, lại chính là ở cảm giác muốn buông bỏ cuốn sách này. Như một nhà giải phẫu cầm trên tay bộ lòng tan nát nhưng không thể đừng được việc tiếp tục bới móc và nghiên cứu nó. Trong cảm giác chán ghét, tôi đã nghiền ngẫm nó cho đến chữ cuối cùng. Và rồi tôi nhận ra, như một cú đánh rất mạnh và đau, giáng thẳng vào tư tưởng, một cuốn sách đầy những đau khổ trầm uất lại mang tới một ánh sáng le lói soi tỏ phần nào thế giới quan đang mụ mị của tôi.

Thất lạc cõi người,  hay tên nguyên gốc là Nhân gian thất cách, tức là Không đủ tư cách làm người. Cả tiểu thuyết là 3 cuốn tự truyện của một chàng trai tên Yozo. Sinh ra trong một gia đình giàu có, điều kiện đầy đủ, nhưng ngay từ những năm tháng đầu đời, anh ta đã cảm thấy mình lạc lõng với cả thế gian. Và để che đậy cho tất cả những tư tưởng trầm uất và tự ti về bản thân, anh ta luôn sắm một cái mặt nạ hề để sẵn sàng chọc cười thiên hạ, mỉm cười với mọi việc để nó trôi đi một cách dễ dàng. Nhưng sự giả tạo ấy không tồn tại được mãi, khi bắt đầu dời gia đình để lên thành phố học đại học, anh ta bắt đầu bộc lộ khuynh hướng chán ghét con người, tự cho mình là “ngoài rìa xã hội” và lao vào đủ thứ tệ nạn, rượu chè, gái gú và làm việc phạm pháp để tự mua vui bản thân.

Nếu chỉ nhìn nhận một cách thông thường, hẳn đây là một kẻ không chỉ gian xảo và giả tạo, mà còn quậy phá, xuống cấp đến tận cùng. Một hạng đê tiện, hèn hạ chỉ biết nghĩ cho bản thân. Chắc hẳn nhiều người sẽ căm ghét anh ta lắm, nhưng biết gì không, anh ta cũng căm ghét chính mình còn hơn bất cứ điều gì.

Không chỉ kể lại chuỗi ngày đau khổ chất chồng dường như không có lối thoát của Yozo, cuốn tiểu thuyết còn là những băn khoăn day dứt không nguôi về sự nhận thức khác biệt so với “mọi người”, trăn trở về “nhân gian” và nguồn gốc của “tội lỗi”.

Chỉ duy nhất một lần, từ “hạnh phúc” được dùng hoàn toàn theo nghĩa đen, không hề mang ý mỉa mai hay châm biếm, là khi anh tìm thấy tình yêu thật sự đầu tiên của mình, lại chính là sự đồng cảm mạnh mẽ giữa hai người về “đau khổ và cô đơn”.

 “ Sáng hôm sau, mở bừng mắt tỉnh dậy, tôi lại trở thành tên hề khinh bạc thủa nào. Một kẻ yếu ớt sợ hãi ngay chính cả hạnh phúc. Tôi bị thương bởi lớp bông gòn. Hạnh phúc sẽ làm tôi bị tổn thương.”

Để rồi sau đó, cả hai cùng tìm đến cái chết. Nhưng số phận thật sự không buông tha con người này dễ dàng đến thế, anh ta không chết được, trong khi người con gái kia thì đã mãi mãi ra đi.

Sau một cú sốc lớn, anh ta quay trở lại với cái vòng luẩn quẩn, nát rượu, chơi bời không biết ngày mai, tự hủy hoại bản thân, vùng vẫy trong vũng bùn không lối thoát. Mỗi con người liên quan đến cuộc đời anh ta, dường như chỉ mang lại cho anh ta thêm đau khổ. Họ không hiểu được Yozo, cũng như anh ta không tài nào hiểu được họ, thế nên từ sợ hãi con người, Yozo đâm ra càng ngày càng chán ghét thế gian, chán ghét cùng cực cả bản thân mình.

Rõ ràng, Yozo là một người có đầy đủ nhận thức, thậm chí, còn quá đa cảm về bản thân, và quá quan tâm đến ánh nhìn của mọi người với mình. Nên anh ta sợ hãi việc làm trái ý họ, ngay cả khi hoàn toàn không hiểu hoặc hoàn toàn không muốn. Trong bế tắc cùng cực giữa thỏa hiệp với tư tưởng chung của xã hội và bản ngã cá nhân, trước miệng lưỡi và ánh nhìn của thế gian, Yozo đã tìm đến rượu như một cách để quên đi tất cả.

“Thế gian cụ thể là gì đây? Là số nhiều của con người chăng? Cái thực thể của thế gian nằm ở đâu kia chứ? Cho đến bây giờ tôi sống mà cứ nghĩ thế gian toàn là một cái gì cường liệt, khắc nghiệt và vô cùng đáng sợ. Khi nghe Horiki nói câu ấy, bất chợt tôi buột miệng :

Thế gian chẳng phải là cậu hay sao kia chứ?”

Không điều gì trong cuộc sống khiến con người này cảm thấy khá hơn. Hạnh phúc gia đình, sự quan tâm chăm sóc, sự ổn định, hay cả sự trong trắng đến ngây thơ mà anh ta cảm giác sẽ cứu rỗi được mình, lại quay ra trở thành những mũi dao sắc nhọn gây ra vết thương không thể lành trong tâm trí. Ở với người phụ nữ góa chồng, nhưng rồi nhận ra đứa con gái chỉ mong người cha thật sự của nó trở về. Lấy một cô gái trong sáng và không vướng bụi trần, tưởng như là một sự xoa dịu cho cuộc đời, thì lại phải chứng kiến vợ bị làm nhục. Tự tử nhiều lần nhưng không thành công, tỉnh dậy trong cảm giác trống rỗng vô vị. Như tấm gương đã vỡ vụn không thể nào chữa lành, tâm hồn con người này tan nát ra từng mảnh nhỏ và không còn bất cứ mong muốn níu giữ cuộc sống nào cả. Thứ giải thoát, chỉ còn có cái chết.

Nhiều lúc tôi từng nghĩ, lựa chọn cái chết là một lựa chọn thật hèn nhát. Sống tiếp mới khó, chứ chết đi thì ai và bất cứ lúc nào cũng có thể làm được. Con người này, sống đã thật sự hèn nhát, chỉ biết tự hủy hoại bản thân vì mâu thuẫn với nhân gian, nay năm lần bảy lượt đều mong chết đi để được giải thoát khỏi cái sai lầm cuộc đời do chính mình gây ra.

Nhưng sự thật có phải chỉ như thế, hay đơn giản cái chết chỉ là sự hợp thức hóa về mặt thể xác của một linh hồn vật vã giữa cuộc đời từ lâu đã không còn thật sự “sống”, mà chỉ đang tồn tại như một thây ma. Nếu vậy, cái chết cũng chẳng phải là điều gì là mới mẻ hay một sự giải thoát nào. Nó chỉ như liều thuốc giảm đau cuối cùng trước khi linh hồn thực sự tan biến đi.

Đến tận cùng của đau khổ, từ một kẻ thất bại, trở thành một phế nhân, rồi bị cho là một cuồng nhân, Yozo đầy chua chát nhận ra:

“Mất tư cách làm người

Tôi hoàn toàn không còn là một con người nữa”

Nguyên nhân của cả một cuộc đời bất hạnh ấy là gì? Anh ta cho rằng, chính mình là kẻ đã gây tất cả. Không có một dòng một chữ nào đổ lỗi cho người khác. Nhưng hằn sâu trong những suy nghĩ tiêu cực đến quái lạ, lại là sự lý giải căm ghét và đầy chua chát cho tất cả mọi hành động của anh ta, nhìn nhận kĩ ra, đều do tác động của cái gọi là “thế gian”. Bởi vì quá quan tâm đến thế gian nghĩ gì, quá sợ hãi sự lạc lõng của bản thân với mọi người mà không dám thể hiện con người thật sự với bất kì ai. Rồi chôn sâu những trầm uất và đau khổ của bản thân, dẫn đến tự hành hạ chính mình để làm giảm nhẹ nỗi thống khổ dày vò.

Một kẻ không đáng trách, mà đáng thương đến cùng cực, tự giết chết bản thân vì cái được coi là đức tính khiêm nhường và nhận phần sai về mình.

Khép lại cuốn tiểu thuyết, là những dòng khắc sâu đến rớm máu trong tâm trí người đọc:

“Tôi bây giờ không hạnh phúc cũng chẳng bất hạnh.

Tất cả rồi sẽ trôi qua

Cho đến bây giờ, trong cái địa ngục A tỳ gọi là thế giới “con người” mà tôi đã sống, thì đây là một điều duy nhất mà tôi nghĩ có vẻ là chân lý.

Đó chỉ là “Tất cả rồi sẽ trôi qua”

Tôi năm nay hai mươi bảy tuổi. Nhưng vì tóc bạc trắng đầu nên mọi người đều tưởng lầm là trên bốn mươi.”

Tôi không biết phải suy nghĩ logic hay đánh giá như thế nào nữa. Chỉ còn thấy dâng lên một cảm giác chua chát đến tận tâm can, một chút thương cảm, và nhen nhóm lên một thứ cảm xúc đáng ngạc nhiên sau khi đọc xong những dòng bi quan tột cùng ấy : chính là tình yêu cuộc sống đến vô cùng.

Như một sự đối chiếu với cuộc đời thực tế của bản thân, để nhận ra mình còn may mắn làm sao. Và tự dặn mình phải luôn kiên cường và dũng cảm, đó chính là cách để bảo vệ mình trước mọi ánh mắt thế gian.

Tản mạn “Mắt biếc” : khi nào mới thôi lấy nước mắt viết thơ tình…

Chỉ là vài dòng suy nghĩ và cảm xúc cá nhân dành cho Mắt biếc, dành cho Ngạn – nhân vật chính đầu tiên mà tôi không thích.

Cầm cuốn “Mắt biếc” lên từ khi trời còn rực nắng vàng. Ánh lên trong một buổi chiều xuân cái ấm áp và dễ chịu khi lặng thinh bên cửa sổ đọc sách một mình. Thế mà lại tật cũ, khi gấp sách lại bên ngoài đã tối đen. Mải lạc bước trong thế giới thực mà như hư ảo của “Mắt biếc”, chợt nhận ra đã lỡ hẹn với dáng chiều.

Nói về “Mắt biếc”, một câu nhận xét “hay”/”không hay” khó lòng mà thể hiện hết được.

Vừa tình vừa bi, cái sự lãng mạn mà bi lụy sầu giăng như một thứ mật ngọt đầy ám ảnh. Lại cũng như cơn nẫu ruột không dứt về thời thế đổi thay, con người thay đổi. Tình yêu, cả giữa nam nữ và cả giữa con người với xứ sở, thấm đẫm trong từng trang viết. Câu chuyện vừa lặng lẽ trong vắt như một dòng suối hoang nơi sơn cước, rồi có lúc lại vần lên dữ dội như cơn sóng dữ nơi thác ghềnh.

Khách quan mà nói “Mắt biếc” là câu chuyện tình yêu đẹp nao lòng. Yêu quê hương xứ sở, yêu tuổi thơ và những năm tháng hồn nhiên. Và hơn hết, là tình yêu thủy chung cho một người duy nhất. Dù bi thương, nó vẫn không che giấu được vẻ yêu kiều khiến vạn người mê đắm. Người ta hẳn là sẽ ngưỡng vọng mãi một kẻ si tình, sẽ trầm luân trong những câu chữ lãng mạn yêu thương cháy bỏng. Thảng hoặc có khi mơ mộng, lại hy vọng được tình cờ ngang qua mà chết chìm trong một đôi mắt biếc nào.

Nhưng về chủ quan, “Mắt biếc” còn để lại một tư vị rất khác. Ngoài những ngọt ngào dụ hoặc, những chìm đắm say mê cho những câu chữ đẹp như thơ, còn đọng lại một hương vị hơi có phần chua chát. Như một loại lật tẩy bản ngã, tôi nhiều khi cảm thấy chính bản thân như đang bị phơi bày.

Nếu chỉ đơn thuần là thưởng thức câu chuyện, hẳn sẽ vừa ngưỡng mộ lại vừa tiếc nuối mãi cho một chàng trai si tình như Ngạn, thương mãi cho một cuộc đời như Hà Lan, hay luyến tiếc mãi cho một cô gái trong vắt như Trà Long. Nhưng suy xét cho kĩ hơn, cái tình cảm trinh bạch không đổi ấy của Ngạn, nối tiếp là những câm lặng âm thầm, những nỗi đau tự mình ôm trọn hay những suy diễn quá nhạy cảm, lại là thứ đầy đọa cả anh và những người anh yêu.

Nói thẳng ra là Ngạn mù quáng, đầy tự tôn nhưng cũng đầy e sợ. Cả một đời anh trốn chạy, tự chôn giấu thứ tình cảm sùng bái như lý tưởng. Nhưng tới cuối cùng, lại vứt bỏ cả cuộc đời mình vì một nỗi sợ hãi từ quá khứ.

Tôi không thích nhân vật Ngạn, thẳng thắn mà nói là thế. Lý do không phải vì tôi ghét bỏ những thằng trai bi lụy. Trái lại, tôi thấy đồng cảm nhiều hơn. Vì cái cá tính yếu ớt và đa mang của Ngạn như là tấm gương thẳng thắn nhất soi tỏ từng góc con người tôi. Cuộc đời anh chẳng khác nào cái phản chiếu của chính tôi trong một hoàn cảnh đặc biệt hơn. Những gì Ngạn làm, những gì Ngạn nghĩ và những gì Ngạn nói, nếu bản thân tôi bớt một phần kiềm chế, hai phần dò xét, thì chính tôi cũng hành xử chẳng khác nào. Và tôi không thích như thế, không một chút nào, vì lối suy nghĩ ấy sẽ mang lại đau khổ cho những người tôi yêu quí, giống như cách Ngạn làm. Tôi không thích thú gì với bản thân mình, nên đâm ra tôi ghét lây cả Ngạn.

Nếu thẳng thắn hơn, ít đi một phần e ấp lo lắng, giảm đi một phần tự tôn, và nhiều thêm một phần đồng cảm, có lẽ cuộc đời sẽ khác. 

Ngạn yêu mọi thứ với tất cả gan ruột. Tình yêu của Ngạn là chuỗi ngày cháy rực của cảm xúc bên trong, của cái tôi mãnh liệt dập mãi không tàn. Từ tình yêu với quê hương, cho tới tình yêu hoài mong với Hà Lan, hẳn là anh yêu sâu sắc điều khiến anh hạnh phúc. Với quê hương, đó thật sự là một tình cảm đáng ngưỡng mộ. Nhưng với Hà Lan, đó lại là một sự cố chấp. Ngạn yêu Hà Lan nhưng dường như không hề cố hiểu cô muốn gì, tôn trọng “hạnh phúc” của người yêu đến độ sẵn sàng chôn vùi bản thân nhưng lại không nhận ra rằng : định nghĩa “hạnh phúc” của mỗi người cũng thật khác nhau. Hà Lan, có thật sự suy nghĩ về hạnh phúc như Ngạn? Cô cần gì ở anh? Gần 300 trang viết không làm cho điều này bớt mơ hồ đi.

Cứ thế tôi giận Ngạn, và như giận bản thân mình, vì quá vị kỉ, quá e dè mà không thể thẳng thắn với những người yêu thương. Chúng ta không ý thức được, không phải cứ bản thân mình gánh chịu đau khổ thì người khác sẽ không phải chịu đựng nữa. Đau khổ không bất biến, chúng sẽ càng sinh sôi vì sự thiếu hiểu biết lẫn nhau.

Tôi giận Ngạn, giận Ngạn yêu Hà Lan sai cách một, thì giận Ngạn từ bỏ Trà Long đến mười lần. Trà Long là một cô gái tốt, nên cô bé không đáng bị đối xử như thế. Tôi giận đến độ sẵn sàng tự viết thêm một chương năm chục trang nữa cho hai người đến được với nhau. Hành trình của Trà Long sẽ rất dài, và rất lâu, nhưng tôi tin là cô bé làm được. Với Ngạn, anh sẽ không tự thay đổi, nếu anh chưa thấy bản thân mình cần thay đổi.

Tuy nói là như thế, nhưng có những điều tôi không ghét bỏ cho được, ấy là sự tận tụy và chung thủy hiếm có của Ngạn. 

“Uống nhầm một ánh mắt mà say cả đời”

Cả cuộc đời Ngạn vất vả long đong, cũng chỉ vì một ngày xa xưa thơ bé bên cái giếng làng. Nào ai bảo được ánh mắt kia không nhìn thấy một cô gái bé nhỏ như đang trôi trong ánh trăng bạc. Ngạn từ lâu đã bị giam cầm rồi, giam trong ánh mắt trong biếc của một ai kia, khiến cả bầu trời của anh chỉ có người ấy. Thể xác có thể xa cách, đầu óc có thể phiêu lưu, nhưng tâm hồn và trái tim thì đã như thể bị cưỡng đoạt, rồi đốt rồi thiêu. Đã chẳng còn lại gì để tiếp tục yêu thương.

Tôi lại thấy Ngạn có đôi phần đáng thương quá. Anh có tự do được đâu, khi anh vẫn còn vui lòng tự khóa mình vào quá khứ. Nhớ quá nhiều thứ làm chậm bước trái tim. Kỉ niệm như con sư tử ẩn mình, sẵn sàng nhảy ra cắn chết những con nai tơ của tình yêu chớm nở. Ngạn cứ thế mà bất lực, chịu tổn thương nhiều nhất vì chính cái gọi là “chung thủy” mà mọi cô gái đều tôn thờ.

Nói đi nói lại, không muốn đi quá sâu vào tình tiết câu chuyện. Vì ai chưa đọc sẽ mất hứng, còn ai đọc rồi thì không cần phải nhắc lại, nhưng thật sự “Mắt biếc” là một câu chuyện đáng đọc. Như một bài thơ ẩn ý nồng đợm, câu chữ bay nhảy trong từng trang sách hẳn sẽ làm cho một ngày của bất cứ ai trở nên lãng mạn và ngọt ngào hơn. Giả thử mà thơ Xuân Diệu, thơ Hàn Mặc Tử viết diễn thành văn xuôi, có khi cũng chưa tình bằng những dòng văn của Nguyễn Nhật Ánh.

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu